Welcome to LuatKhoaSanJose Blog

Liên lạc, gởi bài tham gia, góp ý... xin Email đến: hoingoluatkhoa@yahoo.com

11/26/2014

Chữ TẦM liền với chữ TÂM một vần

Bertrand Russell là một trong những người trí thức nổi danh bậc nhất của nước Anh trong thế kỷ XX. Ông là một giáo sư dậy môn Tóan tại đại học danh tiếng Cambridge và là tác giả của cuốn sách đồ sộ về Tóan học được giới hàn lâm trí thức ca tụng, mà có nhan đề là Principia Mathematica. Nhưng ông lại có nhiều tư tưởng độc đáo táo bạo – đặc biệt là chủ trương chống chiến tranh nên đã gây ra nỗi bất mãn khó chịu cho nhiều người.

Riêng tôi, thì tôi rất tâm đắc với 2 câu thật ngắn gọn ông khuyên nhủ các bạn trẻ nguyên văn tiếng Anh như sau : “Let's have the Right Thinking” và “Let's have the Nice Feeling”. Chữ Right Thinking này có hàm ý như chữ Trí; và chữ Nice Feeling thì cũng tương tự như chữ Nhân – trong 3 chữ “Nhân, Trí, Dũng” mà cha ông chúng ta vẫn sử dụng để nói lên phẩm chất cao quý của người trượng phu quân tử vậy.

Khi còn bị giam giữ nơi trại tù Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết vào những năm từ 1992 đến 1996, tôi đã khai triển ý nghĩa của hai câu đó trong bài thơ song ngữ Việt Anh mà bản tiếng Việt có nhan đề là “Nói với các bạn trẻ”- trong đó có mấy câu đầu như sau : “Hãy Suy nghĩ Chính xác” và “Hãy có Lòng Nhân hậu”.(Toàn văn bài thơ sẽ được ghi trong phần Phụ chú kèm theo bài này)

Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài suy nghĩ liên quan đến họat động của người trí thức vốn được dân tộc và đất nước cung ứng cho bao nhiêu phương tiện vật chất tinh thần và cơ hội tốt đẹp để trau dồi kiến thức, cũng như nâng cao phẩm chất cuộc sống cho bản thân mỗi người. Xin lần lượt trình bày vấn đề qua mấy mục sau đây.

I. Trước hết là bàn về cái tầm nhìn trong thời đại văn minh tiến bộ hiện nay.

 
  
Thế giới quanh ta mỗi ngày một tiến bộ nhờ những phát minh đột phá về mặt khoa học kỹ thuật, nhờ sự phát triển kinh tế thương mại, nhờ sự giao lưu tiếp súc mở rộng khắp mọi quốc gia và nhờ cả về tinh thần bao dung hòa ái giữa các dân tộc – đặc biệt kể từ sau khi thế chiến II chấm dứt vào năm 1945. Đó là xét về bối cảnh chung của thế giới ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Còn riêng đối với nước Việt Nam chúng ta trong khu vực Đông Nam Á Châu, thì ta có thể ghi ra một vài nhận xét đơn giản đại khái như sau. 

1. Chỉ cần nhìn qua mấy nước láng giềng với ta như Singapore, Đài Loan, Đại Hàn, thì vào năm 1960 họ cũng còn ở mức độ kém phát triển giống như ta thôi. Ấy thế mà bây giờ sau có 50 năm, mà họ đã bứt đi xa quá – vượt hơn Việt Nam ta biết bao nhiêu lần về đủ mọi phương diện kinh tế vật chất, khoa học kỹ thuật và nhất là xã hội ổn định hài hòa, ngăn nắp đâu ra đấy v.v... Những nước này trước năm 1945, thì đều bị các nước khác xâm chiếm đô hộ – cụ thể như Đài Loan, Đại Hàn thì bị Nhật chiếm đóng, Singapore thì là  thuộc địa của đế quốc Anh. Vậy mà chỉ sau vài chục năm dành lại được chủ quyền độc lập, họ đã bắt tay xây dựng được thành một quốc gia cường thịnh được sự nể trọng của mọi người trên khắp thế giới.

Cái kinh nghiệm thành công của các nước bạn láng giềng này cần được phân tích tìm hiểu cặn kẽ để giúp cho người Việt chúng ta rút ra được một bài học thực tiễn và hữu ích có thể đem ứng dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương đất nước mình vậy.

2. Có thể nói cả ba nước này đều có những đặc tính tương tự nhau, đó là: Chính quyền Nhà nước (the State) luôn nghiêm túc bảo đảm sự tự do kinh doanh của Thị trường Kinh doanh (the Marketplace) và cũng thực tâm tôn trọng tính cách độc lập của Xã hội Dân sự (the Civil Society). Nhờ vậy, mà mọi thành phần dân tộc có đủ mọi điều kiện để mà phát huy tính sáng tạo của mình hầu tạo được một Không gian Xã hội (the Social Space) thật là thông thóang, cởi mở và nhân ái hài hòa.

Mặt khác, cả ba quốc gia này đều tích cực cố gắng mở rộng việc bang giao chính trị văn hóa xã hội - cũng như phát triển mạnh mẽ việc trao đổi buôn bán làm ăn với thế giới bên ngòai. Nhờ có sự hội nhập mật thiết và êm thắm như thế đối với cộng đồng thế giới mà họ đã gặt hái được bao nhiêu thành công thắng lợi về nhiều phương diện cho đất nước – trong khi vẫn giữ được chủ quyền độc lập và uy tín cho riêng dân tộc của mình.

3
. Trong khi đó, nếu mà nhìn cho kỹ lại nước Việt nam của mình trong 40 năm qua kể từ khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, thì chúng ta thấy tình hình thực tế ra sao?

Phải nói thẳng thắn rằng chế độ độc tài chuyên chế toàn trị do đảng cộng sản áp đặt trên cả nước là nguyên nhân chính yếu đã gây ra sự trì trệ lạc hậu cực kỳ tệ hại cho dân tộc chúng ta hiện nay. Chính quyền cộng sản không những nắm giữ độc quyền về chính trị, mà còn cả về kinh tế, xã hội và văn hóa nữa. Đảng cộng sản còn khống chế cả đến toàn bộ khu vực Xã hội Dân sự và nặng tay đàn áp đối với các tổ chức tôn giáo nữa. Rõ ràng là họ đã gây chia rẽ, rối lọan bất an trong mọi tầng lớp dân tộc với chủ trương phân biệt giữa Ta và Địch – tức là giữa những người thuộc phe nhóm bè lũ của riêng họ với những người không chịu ngoan ngõan rắp mắt quỵ lụy tuân theo họ. Đối với những người bất đồng chính kiến này, thì họ gán cho cái nhãn hiệu là “Thế lực thù địch”, “Phần tử lạc hậu phản cách mạng”, “Âm mưu Diễn biến Hòa bình” để mà thẳng tay trấn áp, diệt trừ - mà không hề còn một chút xót thương thông cảm nào đối với đông đảo số đồng bào cùng chung máu đỏ da vàng như chính họ
Nói cho gọn hơn, thì với chủ trương cực đoan quá khích giáo điều Marxist - Leninist, người cộng sản ở nước ta đã gây chia rẽ trầm trọng giữa các tầng lớp trong đại khối dân tộc. Họ chính là lọai người “gây phân chia” mà trong tiếng Anh gọi là “the dividers” - khiến làm khuấy động rối lọan tòan thể cái không gian xã hội của dân tộc chúng ta. Dù có sự “Đổi mới” với sự nới rộng quyền tự do kinh doanh từ gần 30 năm nay - thì về phương diện chính trị, xã hội văn hóa - chính quyền cộng sản vẫn còn gồng mình xiết chặt hạn chế không cho người dân được tự do phát huy óc sáng tạo của mình để góp phần vào việc nâng cao vị thế của đất nước ta lên cho xứng với tầm văn minh tiến bộ đích thực của thời đại ngày nay vậy
II – Bàn về cái Tâm của lớp người trí thức hàn lâm ở nước ta.

image

Dân gian ta vẫn thường nói đến chữ Tâm kèm theo với vài ba chữ khác nữa, cụ thể như chữ Tâm an”, “Tâm hoà”, “Tâm bình”, “Tâm ngay thẳng”, Tâm trong sáng”, “Trực tâm” - ngược lại là những chữ “Ác tâm”, “Hắc tâm”, “Tà tâm”, “Tâm đen tối” v.v... Cụ Nguyễn Du cũng phát biểu đanh thép trong Truyện Kiều rằng : “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” - đó là chủ ý đề cao cái giá trị căn bản trong cuộc sống con người giữa nhân quần xã hội. Cụ Tiên Điền muốn nhắc nhủ con cháu cần phải chú trọng trau dồi cái phần đạo đức, cái tấm lòng ngay thẳng để mà sống cho có nhân, có nghĩa – đó là điều quan trọng cần thiết hơn nhiều so với chuyện bồi dưỡng tài năng trí tuệ ở học đường. Điều này rõ ràng là theo sát với lời dậy bảo của cha ông ta từ xưa được gói ghém trong một câu ca dao tục ngữ  rất quen thuộc, đó là câu nói : “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”. Chữ Lễ ở đây có hàm ý là Lễ nghĩa, Đạo đức. Còn chữ Văn bao gồm Văn hóa, Kiến thức v.v...


Nhìn vào xã hội ngày nay tại nước ta sau 70 năm dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản, thì hệ thống giá trị đạo đức đã bị băng họai, xuống cấp trầm trọng – con người bị lây nhiễm rất nặng cái tật dối trá, lươn lẹo, lừa bịp phản bội lẫn nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Cán bộ chính quyền nhà nước chuyên môn lừa dối người dân, bưng bít tin tức, dùng ngôn ngữ xảo trá qua báo chí, phát thanh, truyền hình mỗi ngày – mãi rồi người dân cũng khám phá ra tỏ tường cái mặt thật sai trái lem luốc của đảng cộng sản, của chính quyền nhà nước. Và đối lại, người dân cũng phải tìm cách đối phó lại với nhà nước bằng lối dối trá, đóng kịch giả vờ, “nghĩ một đàng, nói một nẻo”. Vì nhà nước dùng công an mật vụ, nhà tù để đe dọa trấn áp những người bất mãn chống đối – thì người dân cũng phải tìm mọi cách len lỏi, giấu giếm mà đưa ra những câu phê bình chỉ trích những sai trái, bất công áp bức do cán bộ gây ra đối với họ. Rõ ràng đó là cái thứ “Bia Miệng” xuất phát từ phía số đông quần chúng là nạn nhân của giới thống trị cộng sản vậy.

Những người đã từng sinh sống và làm việc lâu năm trong chế độ cộng sản, thì đã lần lượt tiết lộ cho công chúng biết được những dối trá, đểu cáng, thâm hiểm của giới cán bộ cao cấp chủ chốt – điển hình như Lê Đức Thọ, Lê Duẫn, Tố Hữu v.v... Cụ thể là trong những cuốn Hồi ký của Vũ Thư Hiên, cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, cuốn “Những Lời Trăng Trối” của Trần Đức Thảo và cuốn mới nhất nhan đề là “Đèn Cù” của Trần Đĩnh – thì các tác giả đều đưa ra những chứng từ thật là trung thực, khả tín về sự xuống cấp băng họai về mặt luân lý đạo đức trong xã hội do giới lãnh đạo cộng sản gây ra. Người cộng sản chuyên môn chủ trương xúi giục lòng hận thù ân óan tàn bạo giữa các tầng lớp quần chúng – điển hình nhất là các vụ “tố điêu, tố gian” trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950, theo đúng sự dàn dựng cố vấn của Mao Trạch Đông và bè lũ Trung cộng.

Kết cục là sự “gian dối, đểu cáng đã lên ngôi”, làm ung thối tận gốc rễ cái truyền thống nhân bản nhân ái - mà cha ông chúng ta đã khổ công vun đắp xây dựng từ bao nhiêu thế hệ trước đây hàng ngàn năm mới tạo ra được.
Đứng trước sự tàn phá đổ vỡ kinh hoàng về văn hóa đạo đức như thế, nhiệm vụ của giới sĩ phu quân tử là phải cố gắng hết mình để hợp lực sát cánh chặt chẽ với nhau - nhằm khởi động được một tiến trình phục hồi lại cái căn bản nhân đạo và nhân ái ngàn xưa của dân tộc. Đồng thời cũng phải có tinh thần hướng thượng, cầu tiến và phục thiện để mà tiếp nhận được cái hay, cái thiện hảo của thế giới hiện đại - hầu đem về bồi bổ thêm vào cho cái kho tàng vốn liếng tinh thần đã sẫn có của nước nhà.

Nói vắn tắt lại, là người sĩ phu trí thức vừa phải có tầm nhìn xa rộng để hiểu biết thấu đáo về tình hình tổng quát của đất nước trong thời đại tòan cầu hóa hiện nay (global vision) - mà cũng vừa phải có cái tâm thật trong sáng và nồng ấm với một tình yêu trọn vẹn để hy sinh hết mình cho đại nghĩa của dân tộc (total love). Có như vậy, thì đất nước chúng ta mới có cơ may vượt thóat khỏi sự thách đố bế tắc lớn lao hiện nay vào đầu thế kỷ XXI vậy./

Costa Mesa, California Tháng 11 Năm 2014.
Ghi Nhận của ĐOÀN THANH LIÊM

11/01/2014

TRÁCH NHIỆM và QUYỀN HẠN CỦA DỰ THẨM


Dưới thời VNCH trước đây, có lẻ nhiều sinh viên Luật chưa hành nghề luật sư hay thẩm phán thắc mắc Dự Thẩm đóng vai trò gì trong nền tư pháp của miền Nam VN.? Dự Thẩm là một nhân sự thuộc ngành thẩm phán xử án đặt dưới sự quản trị của Tối Cao Pháp Viện. Ngược lại các thẩm phán thuộc ngành công tố như Chưởng Lý, Phó Chưởng Lý, Biện Lý, Phó Biện Lý, Tùy Viên Công Tố thì thuộc quyền quản trị của Bộ Tư Pháp. Dự Thẩm được bổ nhiệm làm việc tại các Tòa Sơ Thẩm là tòa án cấp tỉnh đặt tại các tỉnh lỵ, thị xã hay đô thành. Tổ chức tư pháp của miền Nam VN qui định : Về mặt hình sự, tại mỗi tòa sơ thẩm có Chánh Án, Biện Lý và Dự Thẩm. Nhiệm vụ của Chánh án là xét xử. Nhưng Chánh án chỉ có thể xét xử khi nội vụ được đăng đường tức được đưa ra trước phiên tòa. Biện Lý đảm nhận quyền truy tố. Tuy nhiên, Biện Lý lại không có quyền định đoạt hậu quả của sự truy tố. Nói cách khác, người bị truy tố tuy phải đưa ra tòa, không tất nhiên sẽ bị tòa xử phạt. Nhiệm vụ của Dự Thẩm là thẩm cứu các việc hình đã được Biện Lý giao cho để thu thập tài liệu và chứng cớ. Bên cạnh đấy, bất cứ một người nào tự cho là bị thiệt hại về một tội phạm đại hình hay tiểu hình cũng có thể đứng khiếu tố với tư cách dân sự nguyên cáo tại phòng Dự Thẩm, nơi xảy ra tội đại hình hay tiểu hình ấy, hay nơi ngụ..



Như chúng ta biết Dự có nghĩa là dự bị, sửa sọan và Thẩm có nghĩa là xét đoán. Vì thế, trách nhiệm của Dự Thẩm là chuyên về việc thẩm cứu giúp cho chánh án đưa ra một phán quyết công minh.

Dự Thẩm chỉ thụ lý các vụ kiện do Biện Lý yêu cầu bằng Khởi Lệnh Trạng hay do đơn khiếu tố của người bị thiệt hại đứng dân sự nguyên cáo. Những đơn khiếu tố của người bị thiệt hại phải chuyển cho Biện Lý để lập Khởi Lệnh Trạng .

Khi nhận được Khởi Lệnh Trạng, Dự Thẩm sẽ mở cuộc điều tra, hỏi nhân chứng, truy cứu bị can khám nhà của bị can và tòng phạm, tịch thu các tang vật v.v. để tìm ra các bằng chứng của sự phạm pháp.

Dự Thẩm có thể tuyên Án Lệnh Từ Thẩm nếu quyền công tố đã bị tiệu diệt, được đại xá, vô thẩm quyền hay nếu các sự kiện không có tánh cách hình sự .

Nếu Khởi Lệnh Trạng buộc tội kẻ vô danh, Dự Thẩm có quyền tìm kiếm và truy cứu những nghi can hay tòng phạm về hình sự. Nếu Khởi Lệnh Trạng ghi rõ tên một bị can, Dự Thẩm ngoài người nầy có quyền truy cứu và buộc tội các thủ phạm và tòng phạm liên quan đến sự phạm pháp đang thụ lý.

Tuy nhiên, Dự Thẩm có thể tự thụ lý trực tiếp một việc phạm pháp quả tang. Trong trường hợp nầy, khi Dự Thẩm đã báo cho Biện Lý là mình thân hành đến chỗ xảy ra sự phạm pháp và nếu Dự Thẩm đến trước tiên thì Dự Thẩm  có thể bắt đầu mở cuộc điều tra ngay không cần phải đợi Biện Lý yêu cầu.

Để hành sử nhiệm vụ, Dự Thẩm được quyền điều động các sĩ quan cảnh sát tư pháp hay hình cảnh lại.Trong trường hợp phạm pháp quả tang, nếu Dự Thẩm có mặt nơi xảy ra vụ phạm pháp, Biện Lý cùng các hình cảnh lại đương nhiên chấm dứt nhiệm vụ và kể từ lúc đó Dự Thẩm tự đảm nhiệm cuộc điều tra. Dự Thẩm cũng có thể ra lệnh cho các hình cảnh lại tiếp tục cuộc điều tra.

Các nhân chứng đã khai trước hình cảnh lại có quyền phản cung trước Dự Thẩm mà không sợ phạm tội làm chứng gian.

Trước mặt Dự Thẩm, các nhân chứng không chịu cung khai có thể bị phạt vạ từ 601$ đến 2000$ (điều 103 HSTT) và người nào công khai tuyên bố biết rõ thủ phạm một trọng tội hay khinh tội mà từ chối không trả lời các câu hỏi của Dự Thẩm về điểm ấy sẽ bị giam từ 11 ngày đến 1 năm và bị phạt vạ từ 601$ đến 5000 $ (điều 104 HSTT).

Riêng đối với các nhân chứng hoặc bị can bất tuân lệnh gọi của Dự Thẩm trong những vụ phạm pháp quả tang hay không sẽ bị biện pháp cưỡng bách theo luật định .

Các Thẩm Phán - Luật Sư và Nhân Viên của Toà Sơ Thẩm Đà Lạt



Luật cho phép Dự Thẩm dùng mọi hành vi thẩm vấn nào xét ra có ích cho việc tìm ra sự thật. Trong khi thi hành nhiệm vụ, Dự Thẩm có quyền khám xét tư gia, mặc dầu đó là nơi bất khả xâm phạm. Dự Thẩm sai áp tang chứng bất kể quyền sở hữu, tịch thu thư tín bất kể bí mật liên lạc bưu  chính và ban hành lệnh dẫn giải, tống giám hay bắt giam bất chấp nguyên tắc tự do cá nhân.
Trong giai đoạn thẩm cứu, bị can phải đợi Dự Thẩm hỏi cung lần đầu xong, mới được phép tự do liên lạc với luật sư (điều 109 HSTT).
Bất cứ một người nào tự cho là bị thiệt hại về một tội phạm đại hình hay tiểu hình, có thể đứng khiếu tố với tư cách dân sự nguyên cáo tại phòng Dự Thẩm, nơi xảy ra tội đại hình hay tiểu hình ấy, hay nơi người phạm pháp ở hay nơi có thể tìm thấy người phạm pháp.
Đơn Khiếu Tố đệ cho Dự Thẩm sẽ được Dự Thẩm chuyển đến Biện Lý để vị nầy định liệu truy tố hay ngưng truy tố. Nếu xét thấy cần truy tố và nếu xét việc đó là tội phạm đại hình, Biện Lý sẽ chuyển giao hồ sờ ấy cho Dự Thẩm kèm với Khởi Lệnh Trạng để yêu cầu được thẩm cứu. Nếu xét thấy sự phạm pháp thuộc về tiểu hình, Biện Lý hoặc có thể đưa thẳng việc đó ra tòa xét xử theo thủ tục truy tố trực tiếp hay thủ tục phạm pháp quả tang hoặc nếu xét ra việc rắc rối hay mờ ám sẽ yêu cầu Dự Thẩm mở cuộc thẩm cứu hợp lệ.
Sau khi Dự Thầm thẩm cứu xong, Dự Thẩm sẽ làm án lệnh chuyển giao lại hồ sơ cho Biện Lý, thời trong thời hạn 3 ngày Biện Lý phải xét lại h sơ và định lời kết luận .
Sau khi xem hồ sơ của Dự Thẩm chuyển sang, Biện Lý qua Tờ Lệnh Trạng có thể quyết định thôi không truy tố hay tiếp tục truy tố. Về việc đại hình hay tiểu hình, Dự Thẩm có thể hạ Trát Đòi sau khi lấy khẩu cung người can cứu sẽ đổi Trát Đòi thành Trát Tạm Giam nếu cần sau khi hỏi ý kiến của Biện Lý .
Dự Thẩm có thể hạ Trát Dẫn Giải để đòi các nhân chứng đã từ chối không chịu đến cung khai hay đã có lệnh đòi. Dự Thẩm có thể tùy trường hợp phạt tù hay phạt tiền những nhân chứng ương ngạnh đó. Trong việc thẩm cứu, nếu Dự Thẩm xét việc đó không phải là một tội đại hình hay tiểu hình và người can cứu cũng không bị truy tố về một khoản gì khác nữa, Dự Thẩm sẽ tuyên bố trong một Án Lệnh Miễn Tố không phải truy tố gì nữa  và nếu đương sự đang bị tạm giam sẽ được tha ngay.
          Nếu xét thầy có đủ chúng cớ là kẻ can cứu đã phạm pháp, Dự Thẩm sẽ giải bị can sang tòa án có thẩm quyền xét xử.
        Dự Thẩm phải theo nguyên tắc nào trong công việc thẩm cứu sự phạm pháp để bảo đảm được sư độc lập, vì quyền lợi của luật pháp và quyền lợi cho các bị can. Đó là nguyên tắc, Dự Thẩm chỉ thụ lý những dữ kiện của sự phạm pháp chứ không thụ lý về cá nhân người phạm pháp.  Chính vì thế, Dự Thẩm không bị bắt buộc chỉ mở thẩm cứu chống những bị cáo mà Biện Lý đã nêu rõ danh tánh. Nếu Dự Thẩm nhận thấy rằng ngòai các bị cáo trên , còn một số người nữa cũng liên can, thì Dự Thẩm có quyền mở cuộc thẩm cứu truy tố luôn những người nầy và nếu cần ra lệnh tống giam họ mà không cần phải đợi Biện Lý ra Luận Trạng Khởi Tố thêm rồi mới mở cuộc thẩm cứu tiếp. Quyền hành của đã nêu rõ danh tánh. Nếu Dự Thẩm nhận thấy rằng ngoài các bị cáo trên, còn một số người nữa cũng liên can, thì Dự Thẩm có quyền mở cuộc thẩm cứu truy tố luôn những người nầy và nếu cần ra lệnh tống giam họ mà không cần phải đợi Biện Lý ra Luận Trạng Khởi Tố thêm rồi mới mở cuộc thẩm cứu tiếp. Quyền hành của Dự Thẩm chỉ hạn định trong phạm vi dữ kiện được nêu ra trong Khởi Tố Trạng của Biện Lý mà thôi tức là chỉ thẩm cứu những tội danh do Biện Lý chỉ định. Ví dụ, khi thẩm cứu về tội danh Sang Đọat, Dự Thẩm còn tìm thấy bị can còn can thêm các tôi danh khác, Dự Thẩm không thể đương nhiên thụ lý luôn những vi phạm nầy mà phải thông tri cho Biện Lý để tùy nghi định đọat.
          Dự Thẩm có nghĩa vụ phải thụ lý những việc do Biện Lý yêu cầu bằng Khởi Tố Trạng hoặc đượng sự xin truy tố tại phòng Dự Thẩm bằng cách đứng Dân Sự Nguyên Cáo. Sự từ khước thẩm cứu mà không có án lệnh viện dẫn lý do chính đáng có thể bị khiếu nại bằng tố quyền khiếu nại do dân sự nguyên cáo hay chính bị cáo phát động.
Dự Thẩm chỉ có thể bann hành những trát trong trường hợp phạm tội đại hình hay tiểu hình mà thôi vì tội vi cảnh không quan trọng.
 Những trát của Dự Thẩm được chia làm hai lọai:
*
Lọai thứ nhất nhằm buộc bị can phải đến phòng Dự Thẩm để điều tra. Đó là Trát Đòi và Trát Dẫn Giải. 
*
Loại thứ hai là Trát Tống Giam và Trát Bắt Giam nhằm giao bị can cho người quản đốc khám đường trông giữ.
Dự Thẩm phải có nghĩa vụ giữ kín bí mật nghề nghiệp, không có quyền tiết lộ cho báo chí biết những tình tiết của cuộc thẩm cứu. Nếu vị phạm, Dự Thẩm sẽ bị trừng phạt về mặt hành chánh, kỷ luật.
 
                                           
Tài Liệu Tham Khảo:
1-   Tổ chức Tư Pháp của VNCH xuất bản năm 1962
2-   Những Bảo Đảm của Nghi Can – Ts Trần An Bài
3-   Nhiệm vụ của Dự Thẩm của Thẩm Phán Ngô Phượng Tường và Nguyễn Hữu Dương