Welcome to LuatKhoaSanJose Blog

Liên lạc, gởi bài tham gia, góp ý... xin Email đến: hoingoluatkhoa@yahoo.com

11/26/2014

Chữ TẦM liền với chữ TÂM một vần

Bertrand Russell là một trong những người trí thức nổi danh bậc nhất của nước Anh trong thế kỷ XX. Ông là một giáo sư dậy môn Tóan tại đại học danh tiếng Cambridge và là tác giả của cuốn sách đồ sộ về Tóan học được giới hàn lâm trí thức ca tụng, mà có nhan đề là Principia Mathematica. Nhưng ông lại có nhiều tư tưởng độc đáo táo bạo – đặc biệt là chủ trương chống chiến tranh nên đã gây ra nỗi bất mãn khó chịu cho nhiều người.

Riêng tôi, thì tôi rất tâm đắc với 2 câu thật ngắn gọn ông khuyên nhủ các bạn trẻ nguyên văn tiếng Anh như sau : “Let's have the Right Thinking” và “Let's have the Nice Feeling”. Chữ Right Thinking này có hàm ý như chữ Trí; và chữ Nice Feeling thì cũng tương tự như chữ Nhân – trong 3 chữ “Nhân, Trí, Dũng” mà cha ông chúng ta vẫn sử dụng để nói lên phẩm chất cao quý của người trượng phu quân tử vậy.

Khi còn bị giam giữ nơi trại tù Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết vào những năm từ 1992 đến 1996, tôi đã khai triển ý nghĩa của hai câu đó trong bài thơ song ngữ Việt Anh mà bản tiếng Việt có nhan đề là “Nói với các bạn trẻ”- trong đó có mấy câu đầu như sau : “Hãy Suy nghĩ Chính xác” và “Hãy có Lòng Nhân hậu”.(Toàn văn bài thơ sẽ được ghi trong phần Phụ chú kèm theo bài này)

Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài suy nghĩ liên quan đến họat động của người trí thức vốn được dân tộc và đất nước cung ứng cho bao nhiêu phương tiện vật chất tinh thần và cơ hội tốt đẹp để trau dồi kiến thức, cũng như nâng cao phẩm chất cuộc sống cho bản thân mỗi người. Xin lần lượt trình bày vấn đề qua mấy mục sau đây.

I. Trước hết là bàn về cái tầm nhìn trong thời đại văn minh tiến bộ hiện nay.

 
  
Thế giới quanh ta mỗi ngày một tiến bộ nhờ những phát minh đột phá về mặt khoa học kỹ thuật, nhờ sự phát triển kinh tế thương mại, nhờ sự giao lưu tiếp súc mở rộng khắp mọi quốc gia và nhờ cả về tinh thần bao dung hòa ái giữa các dân tộc – đặc biệt kể từ sau khi thế chiến II chấm dứt vào năm 1945. Đó là xét về bối cảnh chung của thế giới ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Còn riêng đối với nước Việt Nam chúng ta trong khu vực Đông Nam Á Châu, thì ta có thể ghi ra một vài nhận xét đơn giản đại khái như sau. 

1. Chỉ cần nhìn qua mấy nước láng giềng với ta như Singapore, Đài Loan, Đại Hàn, thì vào năm 1960 họ cũng còn ở mức độ kém phát triển giống như ta thôi. Ấy thế mà bây giờ sau có 50 năm, mà họ đã bứt đi xa quá – vượt hơn Việt Nam ta biết bao nhiêu lần về đủ mọi phương diện kinh tế vật chất, khoa học kỹ thuật và nhất là xã hội ổn định hài hòa, ngăn nắp đâu ra đấy v.v... Những nước này trước năm 1945, thì đều bị các nước khác xâm chiếm đô hộ – cụ thể như Đài Loan, Đại Hàn thì bị Nhật chiếm đóng, Singapore thì là  thuộc địa của đế quốc Anh. Vậy mà chỉ sau vài chục năm dành lại được chủ quyền độc lập, họ đã bắt tay xây dựng được thành một quốc gia cường thịnh được sự nể trọng của mọi người trên khắp thế giới.

Cái kinh nghiệm thành công của các nước bạn láng giềng này cần được phân tích tìm hiểu cặn kẽ để giúp cho người Việt chúng ta rút ra được một bài học thực tiễn và hữu ích có thể đem ứng dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương đất nước mình vậy.

2. Có thể nói cả ba nước này đều có những đặc tính tương tự nhau, đó là: Chính quyền Nhà nước (the State) luôn nghiêm túc bảo đảm sự tự do kinh doanh của Thị trường Kinh doanh (the Marketplace) và cũng thực tâm tôn trọng tính cách độc lập của Xã hội Dân sự (the Civil Society). Nhờ vậy, mà mọi thành phần dân tộc có đủ mọi điều kiện để mà phát huy tính sáng tạo của mình hầu tạo được một Không gian Xã hội (the Social Space) thật là thông thóang, cởi mở và nhân ái hài hòa.

Mặt khác, cả ba quốc gia này đều tích cực cố gắng mở rộng việc bang giao chính trị văn hóa xã hội - cũng như phát triển mạnh mẽ việc trao đổi buôn bán làm ăn với thế giới bên ngòai. Nhờ có sự hội nhập mật thiết và êm thắm như thế đối với cộng đồng thế giới mà họ đã gặt hái được bao nhiêu thành công thắng lợi về nhiều phương diện cho đất nước – trong khi vẫn giữ được chủ quyền độc lập và uy tín cho riêng dân tộc của mình.

3
. Trong khi đó, nếu mà nhìn cho kỹ lại nước Việt nam của mình trong 40 năm qua kể từ khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, thì chúng ta thấy tình hình thực tế ra sao?

Phải nói thẳng thắn rằng chế độ độc tài chuyên chế toàn trị do đảng cộng sản áp đặt trên cả nước là nguyên nhân chính yếu đã gây ra sự trì trệ lạc hậu cực kỳ tệ hại cho dân tộc chúng ta hiện nay. Chính quyền cộng sản không những nắm giữ độc quyền về chính trị, mà còn cả về kinh tế, xã hội và văn hóa nữa. Đảng cộng sản còn khống chế cả đến toàn bộ khu vực Xã hội Dân sự và nặng tay đàn áp đối với các tổ chức tôn giáo nữa. Rõ ràng là họ đã gây chia rẽ, rối lọan bất an trong mọi tầng lớp dân tộc với chủ trương phân biệt giữa Ta và Địch – tức là giữa những người thuộc phe nhóm bè lũ của riêng họ với những người không chịu ngoan ngõan rắp mắt quỵ lụy tuân theo họ. Đối với những người bất đồng chính kiến này, thì họ gán cho cái nhãn hiệu là “Thế lực thù địch”, “Phần tử lạc hậu phản cách mạng”, “Âm mưu Diễn biến Hòa bình” để mà thẳng tay trấn áp, diệt trừ - mà không hề còn một chút xót thương thông cảm nào đối với đông đảo số đồng bào cùng chung máu đỏ da vàng như chính họ
Nói cho gọn hơn, thì với chủ trương cực đoan quá khích giáo điều Marxist - Leninist, người cộng sản ở nước ta đã gây chia rẽ trầm trọng giữa các tầng lớp trong đại khối dân tộc. Họ chính là lọai người “gây phân chia” mà trong tiếng Anh gọi là “the dividers” - khiến làm khuấy động rối lọan tòan thể cái không gian xã hội của dân tộc chúng ta. Dù có sự “Đổi mới” với sự nới rộng quyền tự do kinh doanh từ gần 30 năm nay - thì về phương diện chính trị, xã hội văn hóa - chính quyền cộng sản vẫn còn gồng mình xiết chặt hạn chế không cho người dân được tự do phát huy óc sáng tạo của mình để góp phần vào việc nâng cao vị thế của đất nước ta lên cho xứng với tầm văn minh tiến bộ đích thực của thời đại ngày nay vậy
II – Bàn về cái Tâm của lớp người trí thức hàn lâm ở nước ta.

image

Dân gian ta vẫn thường nói đến chữ Tâm kèm theo với vài ba chữ khác nữa, cụ thể như chữ Tâm an”, “Tâm hoà”, “Tâm bình”, “Tâm ngay thẳng”, Tâm trong sáng”, “Trực tâm” - ngược lại là những chữ “Ác tâm”, “Hắc tâm”, “Tà tâm”, “Tâm đen tối” v.v... Cụ Nguyễn Du cũng phát biểu đanh thép trong Truyện Kiều rằng : “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” - đó là chủ ý đề cao cái giá trị căn bản trong cuộc sống con người giữa nhân quần xã hội. Cụ Tiên Điền muốn nhắc nhủ con cháu cần phải chú trọng trau dồi cái phần đạo đức, cái tấm lòng ngay thẳng để mà sống cho có nhân, có nghĩa – đó là điều quan trọng cần thiết hơn nhiều so với chuyện bồi dưỡng tài năng trí tuệ ở học đường. Điều này rõ ràng là theo sát với lời dậy bảo của cha ông ta từ xưa được gói ghém trong một câu ca dao tục ngữ  rất quen thuộc, đó là câu nói : “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”. Chữ Lễ ở đây có hàm ý là Lễ nghĩa, Đạo đức. Còn chữ Văn bao gồm Văn hóa, Kiến thức v.v...


Nhìn vào xã hội ngày nay tại nước ta sau 70 năm dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản, thì hệ thống giá trị đạo đức đã bị băng họai, xuống cấp trầm trọng – con người bị lây nhiễm rất nặng cái tật dối trá, lươn lẹo, lừa bịp phản bội lẫn nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Cán bộ chính quyền nhà nước chuyên môn lừa dối người dân, bưng bít tin tức, dùng ngôn ngữ xảo trá qua báo chí, phát thanh, truyền hình mỗi ngày – mãi rồi người dân cũng khám phá ra tỏ tường cái mặt thật sai trái lem luốc của đảng cộng sản, của chính quyền nhà nước. Và đối lại, người dân cũng phải tìm cách đối phó lại với nhà nước bằng lối dối trá, đóng kịch giả vờ, “nghĩ một đàng, nói một nẻo”. Vì nhà nước dùng công an mật vụ, nhà tù để đe dọa trấn áp những người bất mãn chống đối – thì người dân cũng phải tìm mọi cách len lỏi, giấu giếm mà đưa ra những câu phê bình chỉ trích những sai trái, bất công áp bức do cán bộ gây ra đối với họ. Rõ ràng đó là cái thứ “Bia Miệng” xuất phát từ phía số đông quần chúng là nạn nhân của giới thống trị cộng sản vậy.

Những người đã từng sinh sống và làm việc lâu năm trong chế độ cộng sản, thì đã lần lượt tiết lộ cho công chúng biết được những dối trá, đểu cáng, thâm hiểm của giới cán bộ cao cấp chủ chốt – điển hình như Lê Đức Thọ, Lê Duẫn, Tố Hữu v.v... Cụ thể là trong những cuốn Hồi ký của Vũ Thư Hiên, cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, cuốn “Những Lời Trăng Trối” của Trần Đức Thảo và cuốn mới nhất nhan đề là “Đèn Cù” của Trần Đĩnh – thì các tác giả đều đưa ra những chứng từ thật là trung thực, khả tín về sự xuống cấp băng họai về mặt luân lý đạo đức trong xã hội do giới lãnh đạo cộng sản gây ra. Người cộng sản chuyên môn chủ trương xúi giục lòng hận thù ân óan tàn bạo giữa các tầng lớp quần chúng – điển hình nhất là các vụ “tố điêu, tố gian” trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950, theo đúng sự dàn dựng cố vấn của Mao Trạch Đông và bè lũ Trung cộng.

Kết cục là sự “gian dối, đểu cáng đã lên ngôi”, làm ung thối tận gốc rễ cái truyền thống nhân bản nhân ái - mà cha ông chúng ta đã khổ công vun đắp xây dựng từ bao nhiêu thế hệ trước đây hàng ngàn năm mới tạo ra được.
Đứng trước sự tàn phá đổ vỡ kinh hoàng về văn hóa đạo đức như thế, nhiệm vụ của giới sĩ phu quân tử là phải cố gắng hết mình để hợp lực sát cánh chặt chẽ với nhau - nhằm khởi động được một tiến trình phục hồi lại cái căn bản nhân đạo và nhân ái ngàn xưa của dân tộc. Đồng thời cũng phải có tinh thần hướng thượng, cầu tiến và phục thiện để mà tiếp nhận được cái hay, cái thiện hảo của thế giới hiện đại - hầu đem về bồi bổ thêm vào cho cái kho tàng vốn liếng tinh thần đã sẫn có của nước nhà.

Nói vắn tắt lại, là người sĩ phu trí thức vừa phải có tầm nhìn xa rộng để hiểu biết thấu đáo về tình hình tổng quát của đất nước trong thời đại tòan cầu hóa hiện nay (global vision) - mà cũng vừa phải có cái tâm thật trong sáng và nồng ấm với một tình yêu trọn vẹn để hy sinh hết mình cho đại nghĩa của dân tộc (total love). Có như vậy, thì đất nước chúng ta mới có cơ may vượt thóat khỏi sự thách đố bế tắc lớn lao hiện nay vào đầu thế kỷ XXI vậy./

Costa Mesa, California Tháng 11 Năm 2014.
Ghi Nhận của ĐOÀN THANH LIÊM

11/01/2014

TRÁCH NHIỆM và QUYỀN HẠN CỦA DỰ THẨM


Dưới thời VNCH trước đây, có lẻ nhiều sinh viên Luật chưa hành nghề luật sư hay thẩm phán thắc mắc Dự Thẩm đóng vai trò gì trong nền tư pháp của miền Nam VN.? Dự Thẩm là một nhân sự thuộc ngành thẩm phán xử án đặt dưới sự quản trị của Tối Cao Pháp Viện. Ngược lại các thẩm phán thuộc ngành công tố như Chưởng Lý, Phó Chưởng Lý, Biện Lý, Phó Biện Lý, Tùy Viên Công Tố thì thuộc quyền quản trị của Bộ Tư Pháp. Dự Thẩm được bổ nhiệm làm việc tại các Tòa Sơ Thẩm là tòa án cấp tỉnh đặt tại các tỉnh lỵ, thị xã hay đô thành. Tổ chức tư pháp của miền Nam VN qui định : Về mặt hình sự, tại mỗi tòa sơ thẩm có Chánh Án, Biện Lý và Dự Thẩm. Nhiệm vụ của Chánh án là xét xử. Nhưng Chánh án chỉ có thể xét xử khi nội vụ được đăng đường tức được đưa ra trước phiên tòa. Biện Lý đảm nhận quyền truy tố. Tuy nhiên, Biện Lý lại không có quyền định đoạt hậu quả của sự truy tố. Nói cách khác, người bị truy tố tuy phải đưa ra tòa, không tất nhiên sẽ bị tòa xử phạt. Nhiệm vụ của Dự Thẩm là thẩm cứu các việc hình đã được Biện Lý giao cho để thu thập tài liệu và chứng cớ. Bên cạnh đấy, bất cứ một người nào tự cho là bị thiệt hại về một tội phạm đại hình hay tiểu hình cũng có thể đứng khiếu tố với tư cách dân sự nguyên cáo tại phòng Dự Thẩm, nơi xảy ra tội đại hình hay tiểu hình ấy, hay nơi ngụ..



Như chúng ta biết Dự có nghĩa là dự bị, sửa sọan và Thẩm có nghĩa là xét đoán. Vì thế, trách nhiệm của Dự Thẩm là chuyên về việc thẩm cứu giúp cho chánh án đưa ra một phán quyết công minh.

Dự Thẩm chỉ thụ lý các vụ kiện do Biện Lý yêu cầu bằng Khởi Lệnh Trạng hay do đơn khiếu tố của người bị thiệt hại đứng dân sự nguyên cáo. Những đơn khiếu tố của người bị thiệt hại phải chuyển cho Biện Lý để lập Khởi Lệnh Trạng .

Khi nhận được Khởi Lệnh Trạng, Dự Thẩm sẽ mở cuộc điều tra, hỏi nhân chứng, truy cứu bị can khám nhà của bị can và tòng phạm, tịch thu các tang vật v.v. để tìm ra các bằng chứng của sự phạm pháp.

Dự Thẩm có thể tuyên Án Lệnh Từ Thẩm nếu quyền công tố đã bị tiệu diệt, được đại xá, vô thẩm quyền hay nếu các sự kiện không có tánh cách hình sự .

Nếu Khởi Lệnh Trạng buộc tội kẻ vô danh, Dự Thẩm có quyền tìm kiếm và truy cứu những nghi can hay tòng phạm về hình sự. Nếu Khởi Lệnh Trạng ghi rõ tên một bị can, Dự Thẩm ngoài người nầy có quyền truy cứu và buộc tội các thủ phạm và tòng phạm liên quan đến sự phạm pháp đang thụ lý.

Tuy nhiên, Dự Thẩm có thể tự thụ lý trực tiếp một việc phạm pháp quả tang. Trong trường hợp nầy, khi Dự Thẩm đã báo cho Biện Lý là mình thân hành đến chỗ xảy ra sự phạm pháp và nếu Dự Thẩm đến trước tiên thì Dự Thẩm  có thể bắt đầu mở cuộc điều tra ngay không cần phải đợi Biện Lý yêu cầu.

Để hành sử nhiệm vụ, Dự Thẩm được quyền điều động các sĩ quan cảnh sát tư pháp hay hình cảnh lại.Trong trường hợp phạm pháp quả tang, nếu Dự Thẩm có mặt nơi xảy ra vụ phạm pháp, Biện Lý cùng các hình cảnh lại đương nhiên chấm dứt nhiệm vụ và kể từ lúc đó Dự Thẩm tự đảm nhiệm cuộc điều tra. Dự Thẩm cũng có thể ra lệnh cho các hình cảnh lại tiếp tục cuộc điều tra.

Các nhân chứng đã khai trước hình cảnh lại có quyền phản cung trước Dự Thẩm mà không sợ phạm tội làm chứng gian.

Trước mặt Dự Thẩm, các nhân chứng không chịu cung khai có thể bị phạt vạ từ 601$ đến 2000$ (điều 103 HSTT) và người nào công khai tuyên bố biết rõ thủ phạm một trọng tội hay khinh tội mà từ chối không trả lời các câu hỏi của Dự Thẩm về điểm ấy sẽ bị giam từ 11 ngày đến 1 năm và bị phạt vạ từ 601$ đến 5000 $ (điều 104 HSTT).

Riêng đối với các nhân chứng hoặc bị can bất tuân lệnh gọi của Dự Thẩm trong những vụ phạm pháp quả tang hay không sẽ bị biện pháp cưỡng bách theo luật định .

Các Thẩm Phán - Luật Sư và Nhân Viên của Toà Sơ Thẩm Đà Lạt



Luật cho phép Dự Thẩm dùng mọi hành vi thẩm vấn nào xét ra có ích cho việc tìm ra sự thật. Trong khi thi hành nhiệm vụ, Dự Thẩm có quyền khám xét tư gia, mặc dầu đó là nơi bất khả xâm phạm. Dự Thẩm sai áp tang chứng bất kể quyền sở hữu, tịch thu thư tín bất kể bí mật liên lạc bưu  chính và ban hành lệnh dẫn giải, tống giám hay bắt giam bất chấp nguyên tắc tự do cá nhân.
Trong giai đoạn thẩm cứu, bị can phải đợi Dự Thẩm hỏi cung lần đầu xong, mới được phép tự do liên lạc với luật sư (điều 109 HSTT).
Bất cứ một người nào tự cho là bị thiệt hại về một tội phạm đại hình hay tiểu hình, có thể đứng khiếu tố với tư cách dân sự nguyên cáo tại phòng Dự Thẩm, nơi xảy ra tội đại hình hay tiểu hình ấy, hay nơi người phạm pháp ở hay nơi có thể tìm thấy người phạm pháp.
Đơn Khiếu Tố đệ cho Dự Thẩm sẽ được Dự Thẩm chuyển đến Biện Lý để vị nầy định liệu truy tố hay ngưng truy tố. Nếu xét thấy cần truy tố và nếu xét việc đó là tội phạm đại hình, Biện Lý sẽ chuyển giao hồ sờ ấy cho Dự Thẩm kèm với Khởi Lệnh Trạng để yêu cầu được thẩm cứu. Nếu xét thấy sự phạm pháp thuộc về tiểu hình, Biện Lý hoặc có thể đưa thẳng việc đó ra tòa xét xử theo thủ tục truy tố trực tiếp hay thủ tục phạm pháp quả tang hoặc nếu xét ra việc rắc rối hay mờ ám sẽ yêu cầu Dự Thẩm mở cuộc thẩm cứu hợp lệ.
Sau khi Dự Thầm thẩm cứu xong, Dự Thẩm sẽ làm án lệnh chuyển giao lại hồ sơ cho Biện Lý, thời trong thời hạn 3 ngày Biện Lý phải xét lại h sơ và định lời kết luận .
Sau khi xem hồ sơ của Dự Thẩm chuyển sang, Biện Lý qua Tờ Lệnh Trạng có thể quyết định thôi không truy tố hay tiếp tục truy tố. Về việc đại hình hay tiểu hình, Dự Thẩm có thể hạ Trát Đòi sau khi lấy khẩu cung người can cứu sẽ đổi Trát Đòi thành Trát Tạm Giam nếu cần sau khi hỏi ý kiến của Biện Lý .
Dự Thẩm có thể hạ Trát Dẫn Giải để đòi các nhân chứng đã từ chối không chịu đến cung khai hay đã có lệnh đòi. Dự Thẩm có thể tùy trường hợp phạt tù hay phạt tiền những nhân chứng ương ngạnh đó. Trong việc thẩm cứu, nếu Dự Thẩm xét việc đó không phải là một tội đại hình hay tiểu hình và người can cứu cũng không bị truy tố về một khoản gì khác nữa, Dự Thẩm sẽ tuyên bố trong một Án Lệnh Miễn Tố không phải truy tố gì nữa  và nếu đương sự đang bị tạm giam sẽ được tha ngay.
          Nếu xét thầy có đủ chúng cớ là kẻ can cứu đã phạm pháp, Dự Thẩm sẽ giải bị can sang tòa án có thẩm quyền xét xử.
        Dự Thẩm phải theo nguyên tắc nào trong công việc thẩm cứu sự phạm pháp để bảo đảm được sư độc lập, vì quyền lợi của luật pháp và quyền lợi cho các bị can. Đó là nguyên tắc, Dự Thẩm chỉ thụ lý những dữ kiện của sự phạm pháp chứ không thụ lý về cá nhân người phạm pháp.  Chính vì thế, Dự Thẩm không bị bắt buộc chỉ mở thẩm cứu chống những bị cáo mà Biện Lý đã nêu rõ danh tánh. Nếu Dự Thẩm nhận thấy rằng ngòai các bị cáo trên , còn một số người nữa cũng liên can, thì Dự Thẩm có quyền mở cuộc thẩm cứu truy tố luôn những người nầy và nếu cần ra lệnh tống giam họ mà không cần phải đợi Biện Lý ra Luận Trạng Khởi Tố thêm rồi mới mở cuộc thẩm cứu tiếp. Quyền hành của đã nêu rõ danh tánh. Nếu Dự Thẩm nhận thấy rằng ngoài các bị cáo trên, còn một số người nữa cũng liên can, thì Dự Thẩm có quyền mở cuộc thẩm cứu truy tố luôn những người nầy và nếu cần ra lệnh tống giam họ mà không cần phải đợi Biện Lý ra Luận Trạng Khởi Tố thêm rồi mới mở cuộc thẩm cứu tiếp. Quyền hành của Dự Thẩm chỉ hạn định trong phạm vi dữ kiện được nêu ra trong Khởi Tố Trạng của Biện Lý mà thôi tức là chỉ thẩm cứu những tội danh do Biện Lý chỉ định. Ví dụ, khi thẩm cứu về tội danh Sang Đọat, Dự Thẩm còn tìm thấy bị can còn can thêm các tôi danh khác, Dự Thẩm không thể đương nhiên thụ lý luôn những vi phạm nầy mà phải thông tri cho Biện Lý để tùy nghi định đọat.
          Dự Thẩm có nghĩa vụ phải thụ lý những việc do Biện Lý yêu cầu bằng Khởi Tố Trạng hoặc đượng sự xin truy tố tại phòng Dự Thẩm bằng cách đứng Dân Sự Nguyên Cáo. Sự từ khước thẩm cứu mà không có án lệnh viện dẫn lý do chính đáng có thể bị khiếu nại bằng tố quyền khiếu nại do dân sự nguyên cáo hay chính bị cáo phát động.
Dự Thẩm chỉ có thể bann hành những trát trong trường hợp phạm tội đại hình hay tiểu hình mà thôi vì tội vi cảnh không quan trọng.
 Những trát của Dự Thẩm được chia làm hai lọai:
*
Lọai thứ nhất nhằm buộc bị can phải đến phòng Dự Thẩm để điều tra. Đó là Trát Đòi và Trát Dẫn Giải. 
*
Loại thứ hai là Trát Tống Giam và Trát Bắt Giam nhằm giao bị can cho người quản đốc khám đường trông giữ.
Dự Thẩm phải có nghĩa vụ giữ kín bí mật nghề nghiệp, không có quyền tiết lộ cho báo chí biết những tình tiết của cuộc thẩm cứu. Nếu vị phạm, Dự Thẩm sẽ bị trừng phạt về mặt hành chánh, kỷ luật.
 
                                           
Tài Liệu Tham Khảo:
1-   Tổ chức Tư Pháp của VNCH xuất bản năm 1962
2-   Những Bảo Đảm của Nghi Can – Ts Trần An Bài
3-   Nhiệm vụ của Dự Thẩm của Thẩm Phán Ngô Phượng Tường và Nguyễn Hữu Dương
 

10/12/2014

DẠ TIỆC HỘI NGỘ MÙA THU KỲ V NGÀY 28.09.2014


HỘI NGỘ MÙA THU
Gia Đình Luật Khoa Bắc California

*Tình Thầy Trò và Đồng Môn đậm đà   
* Văn Nghệ thật phong phú và vui nhộn

San Jose (Ý Dân): Gần 260 cựu sinh viên Luật Khoa Saìgòn - Huế - Cần Thơ và thân hữu đã đến tham dự Dạ Tiệc Hội Ngộ Mùa Thu Kỳ V của Gia Đình Luật Khoa Bắc California tại nhà hàng Grand Fortune, San Jose vào 6 giờ chiều ngày 28-9-2014 vừa qua.

Về phía quan khách, chúng tôi nhận thấy có Gs Quách Thị Nho, nguyên giáo sư tại đại học Luật Cần Thơ, Thẩm Phán Phạm Văn Hàm, chủ tịch Hội Ái Hữu Luật Khoa Nam Cali cùng phái đòan, Ls Trần Hòang Vân, phó chủ tịch Hội Luật Gia Bắc Cali. cùng phái đoàn, hiền tài Nguyễn Thanh Liêm, Bs Trần Văn Nam, hội trưởng Hội Petrus Ký, ông Phạm Bách Phi, hội trưởng Hội Nguyễn Trải, Bs Trần Vĩnh Thái, hội trưởng Hội Võ Trường Toản, Bs Trần Văn Thuyết, Hội trưởng Hội Tây Ninh, Chị Nguyễn Thị Song Hà, hội trưởng Hội Trưng Vương, chị Trần Mai Hương, hội trưởng Hội Lê Văn Duyệt, Ông Bùi Tuyết Sơn, hội trưởng Hội Phan Thanh Giản, Đòan Thị Điểm, Gs Nguyễn Trung Hòa, hội trưởng Hội Phụ Huynh và Giáo Chức cùng các thân hữu và giới truyền thông. 

Kính mời quý vị click trên tấm hình để xem chi tiết...

https://sites.google.com/site/luatkhoasanjosesite/home/sinh-hoat/ngay-28-09-2014---hoi-ngo-mua-thu-ky-5


 

9/20/2014

LUẬT KHOA MUG & T-SHIRT


Kính thưa
Quý Giáo Sư, Quý Niên Trưởng và các bạn đồng môn
của 3 trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn - Huế - Cần Thơ

Gia Đình Luật Khoa Bắc Califorina đã thực hiện một món quà lưu niệm là Luật Khoa Mug cho các đồng môn trong tiệc Họp Mặt Xuân Giáp Ngọ đươc tổ chức vào ngày 1 tháng 3, năm 2014 vừa qua tại nhà hàng Hội An Bistro. Trong buổi tiệc, Lk Mug vừa là quà kính tặng Ban Cố Vấn, vừa là quà sổ xố giúp vui thêm cho buổi tiệc, sau đó đã được các bạn đồng môn ủng hộ bằng cách mua trực tiếp hay gửi qua bưu điện để các bạn có cho mình một món quà làm kỷ niệm. Hiện giờ số lượng Luật Khoa Mugs tồn kho không còn nhiều. Ngoài LuatKhoa Mug, Gia Đình LK chúng tôi vừa có thêm một món quà lưu niệm mới là T-SHIRT có in hình LuatKhoa Logo. Size áo gồm size Medium, Large and XLarge.
Nếu quý vị nào chưa có LuatKhoa MUG,  chưa có LuatKhoaT-SHIRT, xin hãy liên lạc với chúng tôi  qua:

1.  Địa chỉ email: hoingoluatkhoa@yahoo.com
2.  Điện Thoại:    408.410.3379 (anh Nguyễn Vạn Bình)

Giá tiền cho một Mug hay một T-SHIRT là $10.00 ea.. Quý vị ở xa nếu muốn Mug, hay T-shirt gởi qua đường Bưu Điện sẽ phải trả thêm tiền cước phí.

XIN LƯU Ý: Luật Khoa Mug đã bán hết. Gia Đình Luật Khoa Bắc California chân thành cám ơn tất cả quý vị đã nhiệt lòng ủng hộ.


Front side


Back side

LuatKhoa T-Shirt


9/17/2014

CHUYỆN TỴ NẠN CHÍNH TRỊ và CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO TỰ DO (1975-2015)




CHUYỆN TỴ NẠN CHÍNH TRỊ và
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO TỰ DO (1975-2015)

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm


Theo thống kê phổ biến vào năm 2010 của Cộng đồng Người Việt tại Liên Bang Úc Châu, thì tổng số người Việt hiện sinh sống ở hải ngoại là vào khoảng 4.5 triệu người. Trong đó, thì hầu hết là người tỵ nạn chính trị, chứ không phải là tỵ nạn kinh tế.


Năm 2015 sắp tới, thì sẽ là 40 năm kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà con chúng ta đã lần lượt phải bỏ nước ra đi để mà tránh thoát khỏi cái nạn độc tài tàn bạo dã man của đảng cộng sản bao trùm lên cả nước từ miền Bắc vào đến tận miền Nam. Nói chung, thì phần đông các gia đình tỵ nạn chúng ta đã lần hồi xây dựng được một cuộc sống ổn định, an lành tại các quốc gia dân chủ ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu và cả Á Châu nữa. Và đặc biệt là lớp người trẻ thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3 là con, cháu chúng ta - vào lớp tuổi từ 20 đến 50 – thì đã hội nhập khá thành công nơi các quốc gia sở tại, nhờ tiếp nhận được một nền giáo dục tiến bộ về khoa học kỹ thuật hiện đại và do đó mà có được công việc chuyên môn cao với thu nhập khả dĩ bảo đảm được một nếp sống tiện nghi thoải mái.
Thế nhưng, nhìn lại cái quá trình vượt biên di tản tỵ nạn của bà con thân thiết ruột thịt của chúng ta trong 20 năm từ 1975 đến 1995, thì không một ai mà tránh được nỗi bùi ngùi xúc động trước những cái chết tức tưởi đau thương thảm khốc của hàng chục vạn người ở ngoài biển khơi hay trong rừng sâu nơi mấy nước láng giềng như Lào, Cambodia.


Sắp bước qua năm 2015 - tức là sau 40 năm cuộc di tản tỵ nạn khởi đầu sau cái ngày oan nghiệt 30/4/1975 ấy - thiết nghĩ chúng ta cũng nên ôn lại cho bản thân mình và nhất là cho con cháu những khổ đau mất mát mà dân tộc chúng ta phải chịu đựng như là cái giá quá đắt để đổi lại cuộc sống tự do nơi những miền đất ở ngòai quê hương Việt nam thân yêu của mình.  Xin được trình bày vấn đề nhức nhối đó qua mấy mục sau đây :


I. Cái giá của Tự do:
Bao nhiêu mạng sống con người đã bị chôn vùi ngoài biển cả, nơi rừng sâu?


* Không thể nào có thể thống kê chính xác được về số thuyền nhân bị chết ngoài biển, mà chỉ có thể có con số phỏng đoán mà thôi. Theo tài liệu của tổ chức Cao Ủy về Người Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc, thì ước lượng có đến từ 200,000 đến 400,000 thuyền nhân bị thiệt mạng ngoài biển khơi. Trong khi đó, thì con số thống kê về các thuyền nhân đến được các trại tạm cư ở các quốc gia Đông Nam Á cho biết tổng số là khoảng 800,000 người, con số này còn ít hơn tổng số người di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 được thống kê là gần 1 triệu người.


* Về số người đi đường bộ qua nước Lào hay
Cambodia, thì không thấy có một con số ước lượng nào về số người bị mất tích nơi rừng sâu - do bị bọn cướp, quân Khmer Đỏ hay công an cộng sản giết chết hoặc do bệnh hoạn kiệt sức mà thiệt mạng. Có người ước đóan con số “bộ nhân” mất tích có thể lên tới vài ba chục ngàn người, nhưng không một ai mà lại có thể xác định rõ ràng về con số đó được.


Vì không thể nào mà có được con số thống kê chính xác về những người bị mất tích ngòai biển hay nơi rừng sâu, nên tôi nghĩ chúng ta chỉ còn một cách duy nhất là thâu thập mọi chứng từ của các thân nhân ghi lại danh tính của người bà con hay bạn hữu thân thiết của họ mà bị mất tích trong chuyến đi vượt biên vào ngày tháng nào, xuất phát tại địa điểm nào v.v...Rồi các tổ chức đặc trách  - như Văn Khố Thuyền Nhân chẳng hạn - sẽ phân tích, đối chiếu và xếp lọai các tài liệu này, và sau đó sẽ trình bày thành một hồ sơ tổng kết về các nạn nhân bị mất tích trong lúc tìm cách vượt biên để tránh thóat khỏi chế độ độc tài cộng sản ở Việt Nam. Hồ sơ tổng kết này sẽ là một tài liệu tương đối chính xác nhất - do chính các thân nhân vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân của bao nhiêu vụ mất tích đớn đau mù mịt đó – mà họ đích thân đứng ra thông báo rộng rãi những chi tiết cụ thể cho công chúng biết vậy.


II. Một số trường hợp thân nhân và bạn hữu bị thiệt mạng hay mất tích lúc vượt biên mà tôi biết rõ.


Riêng bản thân, thì tôi biết rõ đến cả trăm người là thân nhân ruột thịt hay là bạn hữu thân thiết mà bị thiệt mạng hay mất tích ngòai biển khơi trong các chuyến vượt biên. Xin ghi lại danh tính của một số nạn nhân sau đây.


1 – Những bà con thân nhân ruột thịt.

*  Đầu tiên là cháu Hòang Anh là con của cô Oanh em gái tôi. Năm 1979, cháu mới được 13 tuổi, cháu cùng xuống ghe đi với chị là Hoàng Yến 17 tuổi. Không may, ghe bị đắm lúc gần tới một hòn đảo nên mọi người phải lội vào bờ và Hoàng Anh đã bị chết đuối do bị cuốn đi bởi một con sóng mạnh chạy ùa vào đất liền – trong khi đó thì chị của cháu lại sống sót. Đây là một trong những nỗi đau thương mất mát lớn nhất trong gia đình chúng tôi.

*  Về phía dòng họ Vũ Ngô của bà ngoại tôi tại làng Lục Thủy, thì có ít nhất hai người bị mất tích trong 2 chuyến vượt biển khác nhau vào các năm 1979, 1980. Đó là ông Vũ Ngô Chẩn và Trịnh Ngọc Cứ, bà con trong gia đình không hề được tin tức gì về các ông kể từ ngày họ xuống ghe rời khỏi quê hương.

*  Còn đây là một chuyện chết chóc kinh khủng nhất của nhiều người trên chiếc ghe đi từ Sài gòn vào cuối năm 1978 – trong đó có chú Nghĩa là em họ của bà xã nhà tôi. Vì ghe bị mắc cạn lâu ngày trên một cồn cát hoang vu, nên nhiều người bị chết đói chết khát vì kiệt sức. Sau đó thì được một tàu đánh cá đưa về Đài Loan, nhưng giữa đường đi này thì còn thêm nhiều người bị chết nữa. Trong số người chết đó, thì tôi biết rõ Quý và Dũng là em và cháu của chị Nguyễn Đức Tuyên bạn thân thiết của tôi. Rồi cả ông bà Phú Vinh là thương gia có tiếng ở khu Ngã Ba Ông Tạ, chị Hồng là em của chị Đại Tá Kính nữa...


2 – Những người bạn trong giới luật sư, thẩm phán.

* Trong số luật sư, thì tôi được biết rõ có ít nhất 3 người là nạn nhân bị thiệt mạng trong lúc vượt biên. Đó là các anh Đặng Như Kỳ, Đàm Quang Đôn và Nguyễn Hữu Lành. Anh Kỳ làm chung văn phòng với các bạn Vương Văn Bắc, Lê Sỹ Giai, Nguyễn Tường Bá, Đàm Quang Lâm. Anh Đôn có thời còn là một Dân biểu ở đơn vị Cần Thơ. Riêng anh Lành, thì còn là Khoa Trưởng Đại học Luật Khoa Cần Thơ. Chị Lành là ái nữ của Giáo sư Phạm Đình Ái mà có thời đã làm Nghị sĩ tại Thượng Nghị Viện hồi trước năm 1975. Trên chiếc ghe của anh chị Lành, còn có hai cháu là con của Luật sư Bùi Chánh Thời, gia đình Kỹ sư Lê Văn Danh là một người họat động nổi tiếng ở Sài gòn trước 1975. Tất cả đều mất tích, không một ai sống sót để mà kể lại cái thảm cảnh này.

* Về giới thẩm phán, thì tôi ghi nhận được có ít nhất 3 tường hợp mất tích, đó là các anh Tô Lai Chánh, Nguyễn Văn Ngãi, Vương Quốc Cường.. Anh Chánh đã có thời họat động trong Tổng Hội Sinh Viên, sau thì làm sĩ quan quân pháp. Anh Ngãi trước năm 1975 thì làm Dự thẩm ở Biên Hòa. Anh Cường đã có thời làm Chánh án ở Quảng Ngãi.


3 –  Một số bạn hữu khác.

Xin kể 3 trường hợp các người bạn bị mất tích. Chị Vũ Thị Kim Lan là người rất giỏi về sinh ngữ Anh, Pháp; chị còn mày mò học thêm cả Hoa ngữ nữa. Vào cuối năm 1979, chị dẫn cháu con cô em cùng đi vượt biên, và cả hai đều mất tích.

Anh Trịnh Văn Xuân trước làm ở Nha Công Vụ. Anh chị dẫn con trai là bác sĩ cùng đi vượt biên vào năm 1978 - 79, nhưng tất cả đều mất tích.

Anh Nguyễn Hải là giáo sư tại Đại học Khoa Học Sài gòn. Vào năm 1979, anh Hải dẫn theo cháu gái đi vượt biên, nhưng cả hai cha con đều bật vô âm tín, không một ai trong gia đình có được một tin tức nào về anh cả.


III – Chúng ta có thể làm được gì đối với những người mất tích?


Cho đến nay, chúng ta đã có nhiều tượng đài được xây dựng khắp nơi để tưởng niệm những thuyền nhân bị thiệt mạng hay mất tích. Đặc biệt là tổ chức Văn khố Thuyền Nhân đã tổ chức nhiều chuyến đi viếng thăm và sửa sang các mộ phần nạn nhân thiệt mạng tại các đảo ở Đông Nam Á. Đó là những cố gắng rất đáng biểu dương của những cá nhân và tổ chức vốn có sự quan tâm cụ thể và tấm lòng thương cảm sâu xa đối với những bà con gặp nạn trên đường đi tìm Tự do.

Nhưng thiết nghĩ chúng ta còn có thể làm được nhiều điều hơn thế nữa để biểu tỏ tấm lòng thiết tha gắn bó đối với tòan thể mấy chục vạn người đã thiệt mạng hay mất tích trên đường vượt biển, vượt biên. Cụ thể là một số việc đại khái như sau đây :


1 – Kêu gọi mọi thân nhân và bạn hữu của các nạn nhân để họ sẵn sàng thông báo chi tiết về danh tính người quá cố và trường hợp thiệt mạng hay mất tích.

Các thông báo này sẽ do một tổ chức thâu thập lại, phân tích, đối chiếu, xếp lọai và làm tổng kết về biến cố đau thương đã kéo dài đến mấy chục năm sau ngày 30/4/1975.


2 – Các Hội Ái Hữu, các đơn vị Quân Cán Chính v.v...
mỗi đơn vị đứng ra thâu thập danh sách các thành viên của mình mà là nạn nhân. Rồi tổ chức những Lễ Tưởng niệm riêng biệt dành cho các thành viên đã thiệt mạng trong hoàn cảnh bi đát đó.


3 – Tiến tới thành lập một Viện Bảo Tàng và Văn Khố
dành riêng cho những nạn nhân đã thiệt mạng hay mất tích trên đường vượt biên đi tìm Tự do.v.v...


Trên đây chỉ là một gợi ý rất sơ khởi, người viết trông đợi sự hưởng ứng của đông đảo các bạn đọc, để chúng ta cùng nắm tay chung nhau thực hiện được một hành động có ý nghĩa sâu sắc nhằm bày tỏ lòng yêu mến thiết tha đối với tập thể những người đã bỏ mình trên bước đường đi tìm Tự do vậy./


Westminster
California, Tháng Chín 2014

8/18/2014

HỌP MẶT KỲ 3 - Ngày 26.07.2014


San Jose(GDLKBC):
30 thành viên và thân hữu của Gia Đình Luật Khoa đã tham dự phiên họp tại tư gia của anh chị Phạm Mạnh Tuấn & Dương Thị Tiến vào 5 giờ chiều ngày 26-7-2014 vừa qua.



Mở đầu, anh Nguyễn Vạn Bình đã ngỏ lời cám ơn anh chị Phạm Mạnh Tuấn & Dương Thị Tiến đã cho mượn địa điểm họp cùng chuẩn bị chu đáo bửa ăn tối cho mọi người. Anh Bình cũng cám ơn tất cả mọi người đã đến tham dự phiên họp. Dịp nầy anh đã phân phối một số Thiệp Mời và Vé Tham Dự Ngày Hội Ngộ Mùa Thu Luật Khoa sẽ được tổ chức vào ngày 28-9-2014 cho các thành viên. Anh cũng cho mọi người xem qua bản thảo của Đặc San Luật Khoa năm nay. Anh cho biết, nội dung Đặc San năm 2014  gồm có nhiều hình  ảnh của các giáo sư cùng các cựu sinh viên Luật Khoa, và nhiều bài vở bao gồm các lãnh vực luật pháp, chính trị, văn học v.v.. Kính mời click vào link dưới đây để xem chi tiết

HỌP MẶT KỲ 3 và MỪNG SINH NHẬT THÁNG 7-8-9

 

7/20/2014

CÂU CHUYỆN DI CƯ VÀO MIỀN NAM CỦA TÔI


Bài viết nhân kỷ niệm 60 năm Di cư vào miền Nam 
(1954 – 2014)
                              Hồi tưởng của  Đoàn Thanh Liêm
 
________________________________________
 
     *  Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng Tú tài II qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hà nội, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Huyện Xuân Trường Tỉnh Nam Định để ra Hải phòng bằng đường thủy, và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách kiếm được thuyền bè để mà đi theo đoàn quân tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng Yên sát với mỏ than Hòn Gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hà nội đến Hải phòng để tìm gặp bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể.
Trước khi rời Hà nội, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận đã thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, và đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới  cấp cho tôi một “Giấy Chứng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Nha Học Chánh thuộc Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi.
Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn.

Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích đi đây đi đó xông pha mạo hiểm của tuổi trẻ – như cụ Nguyễn Công Trứ nói : “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây – Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”. Nhưng phần lớn chính là do động cơ thúc đẩy bởi cái chuyện “phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “,  đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc.

Tôi phải ở lại thành phố Hải Phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Sài gòn hồi giữa tháng 8. Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi. Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 - 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa thuộc đồng bằng sông Hồng mà sớm ra được tới Hải phòng để kịp đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết Hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi mấy tháng sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với các tiện nghi thoải mái hơn để chuyên chở số lượng rất đông đảo người di cư từ Bắc vào Nam.
Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Sài gòn. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường Tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Galliéni) cũng gần với Chợ Bến Thành. Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ ra từ giàn “cốt pha" (coffrage), để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Sài gòn đối với lớp người mới chân ướt chân ráo từ ngoài Bắc vào miền Nam – chuyện này khiến cho tôi cứ nhớ hoài.
Chúng tôi được mấy bà con đến được Sài gòn vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hà nội hay từ Nam Định mà đến đây trước như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng . Các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ.

I – Những kỷ niệm khó quên của Sinh viên Di cư.
 Sau vài bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long là nơi được dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đầy đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nho nhỏ để chi tiêu lặt vặt. Cũng tại nơi tạm cư này, có lần chúng tôi lại được tiếp đón cả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa. Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong ước của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi.

Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Sài gòn cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nực nên vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, nơi có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú này.

II – Vài chuyện ngộ nghĩnh tại Khu Lều Khám Lớn.
 Xin vắn tắt ghi lại vài chuyện vui vui ngộ nghĩnh trong dịp vui xuân năm Ất Mùi 1955 tại Khu Lều Khám Lớn như sau đây.

1 - Một nhà báo người Pháp của tờ “Le Parisien libéré” đến chụp hình và phỏng vấn sinh viên chúng tôi. Anh chụp ảnh lia lịa về cái cảnh anh Lưu Trung Khảo viết mấy câu đối Tết bằng chữ Hán. Từ đó mà sinh viên chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh “Ông Đồ Khảo”.
 Hồi đó sinh viên chúng tôi đều nói rành tiếng Pháp, nên đã trả lời các câu hỏi của anh nhà báo này một cách suôn sẻ thoải mái. Tôi còn nhớ đã nói với anh ấy rằng: “Chúng tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của sự tàn bạo của người cộng sản độc tài. Do đó mà phải bỏ lại quê hương ở miền Bắc để đi tìm được tự do tại miền Nam này. Cụ thể là riêng trong gia đình tôi, thì đã có hai người bị cộng sản sát hại. Đó là vào năm 1947 công an cộng sản đã giết ông cậu là em của mẹ tôi tên là Tống Văn Dung và đem quăng xác ông xuống con sông Trì Chính ở Phát Diệm .Và họ còn đến tận nhà bắt cả cha tôi là Đoàn Đức Hải từ năm 1948 mang đi biệt tích luôn…”

2 -  Cũng vào dịp Tết Ất Mùi này, Đoàn Sinh viên Di cư chúng tôi còn thực hiện được một tờ Đặc San lấy tên là “Lửa Việt’ với chủ đề là “Xuân Chuyển Hướng” với các cây bút sau này rất nổi danh, đó là Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền v.v…
 
3 - Và riêng tại căn lều gồm 8 người của tôi, thì để mừng xuân anh bạn Bùi Đình Nam đã ra tay làm đầu bếp chiên cho chúng tôi một món bít tết thật đặc sắc. Chúng tôi lại còn được uống cả một chai rượu chát hiệu Beaujolais của Pháp nữa. Miếng ngon này làm cho bọn trẻ chúng tôi lúc đó mới ở vào cái tuổi đôi mươi, thì không bao giờ mà chúng tôi lại quên được.
 
Thật là những kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi mới đến sinh sống nơi miền đất xa lạ Sài gòn này. Cuối cùng, thì vào khoảng sau Tết Âm lịch không lâu, chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng vừa mới xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đầy đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước …Và cứ như vậy cuộc sống của chúng tôi lần hồi đi vào mức ổn định và hòa nhập được với nề nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình.

III -  Chuyện về các anh chị em trong gia đình của tôi.
Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ lại được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Lúc đó các anh chị lớn đều ra sức hợp với nhau mà chăm lo chu đáo cho mấy em còn nhỏ dại cỡ tuổi 10 – 16, vì cha mẹ chúng tôi đều đã khuất bóng từ trước rồi.
 Và rồi đến lượt các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình chúng tôi , thì các cháu đều đã thành đạt tại miền Nam này. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam - và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời. Điều này càng rõ rệt, vì sau năm 1975 chúng tôi được gặp lại bà con từ quê hương ngoài Bắc vào thăm, thì họ đều xác nhận là họ bị cán bộ cộng sản đàn áp, bóc lột, chèn ép kỳ thị tàn bạo đến độ túng đói khốn khổ điêu đứng vô cùng!
   
     * Năm 2014 này, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2014), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên là một thành viên của khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản, mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam.
Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư vĩ đại của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt Nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác mà đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó.

Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy.
Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại nơi đây tấm lòng quảng đại nhân ái của nhân dân miền Nam - đã mở rộng vòng tay đón nhận và bao bọc che chở cho bà con ruột thịt là nạn nhân khốn khổ bất hạnh của nạn độc tài cộng sản, nên đã phải bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn ở ngòai Bắc để tìm tự do tại miền Nam. Ân nghĩa đó thật là cao cả rộng lớn như Trời Biển và đã góp phần củng cố thêm cho sức mạnh tổng hợp của tòan thể Dân tộc chúng ta nữa./
 
 Thành phố Costa Mesa California, tháng Bảy năm 2014
Đoàn Thanh Liêm
 
 

6/09/2014

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CÒN PHẢI CHỐNG CỘNG TỚI BAO GIỜ NỮA?




“Chúng ta phải chống Cộng 
cho tới khi nào Cộng Sản chết!”

Ghi lại bài thuyết trình của TS TRẦN AN BÀI
nhân ngày Truyền Thống CSQG năm 2014 tại San Jose.
TS Trần An Bài:
" Chúng ta phải chống Cộng cho tới khi nào Cộng Sản chết!"

Kính thưa đại diện các Hội Đoàn,
Kính thưa quý Niên Trưởng và quý vị thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) VNCH.
  
Hôm nay, ngày 1-6-2014, tất cả chúng ta hiện diện nơi đây theo lời mời của Ban Tổ Chức thuộc Lực Lượng CSQG/Bắc Cali để chào mừng Ngày Truyền Thống CSQG. Ngày Truyền Thống là ngày gì? Đó là ngày Tổ Quốc tri ân những hy sinh của Lực Lượng CSQG và quan trọng hơn, đó là ngày Lực Lượng này kiểm điểm công tác để rút ưu khuyết điểm trong việc phục vụ đất nước và đồng bào.

Từ sau biến cố 30-4-1975, Ngày Truyền Thống cũng vẫn được liên tục tổ chức tại hải ngoại, nhưng mang một ý nghĩa khác. Đó là Lực Lượng CSQG cùng với các Hội Đoàn, Đoàn Thể QG khác quyết tâm xây dựng một Cộng Đồng Người Việt hải ngoại vững mạnh để giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Đặc biệt năm nay, trong không khí ảm đạm Quê Hương VN đang bị Tàu Cộng xâm chiếm, Ngày Truyền Thống đã không có tiệc tùng, rượu bánh, có ý để mọi người chúng ta cùng chia sẻ những xót xa với đồng bào bên quê nhà đang đội mưa, đội nắng đi biểu tình chống Trung Cộng cướp nước, nhưng lại bị CSVN thẳng tay đàn áp. Và đó cũng là lý do hôm nay, tôi được đứng đây nói đôi lời tâm sự với Quý Vị.

Tôi biết rằng Lực Lượng CSQG rất đau buồn khi Ngày Truyền Thống không được tổ chức tại Bộ Tư Lệnh CSQG đường Trần Hưng Đạo, Saigon hay tại Học Viện CSQG Thủ Đức, mà lại tổ chức tại San Jose, Hoa Kỳ. Đó là vì chúng ta không chấp nhận chế độ Cộng Sản, nên chúng ta phải bỏ nước đi tỵ nạn chính trị. Mặc dầu thế giới đã khai tử Cộng Sản rồi, nhưng thật bất hạnh, quái thai này vẫn còn đang sống sót tại 4 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đến nỗi, Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã nói thẳng vào mặt những đảng viên CSVN trong cuộc họp với Ủy Ban Nhân Dân Thủ Đô Hà Nội rằng Ngài rất xấu hổ mỗi khi cầm quyển sổ thông hành mang tên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
Chúng ta - những người Quốc Gia - bắt đầu chống Cộng từ ngày Hồ Chí Minh nhận chỉ thị của Cộng Sản quốc tế đem chủ thuyết Cộng Sản về áp đặt trên đất nước VN từ năm 1930. Trong suốt chiều dài lịch sử 84 năm chống Cộng, bao nhiêu chiến sĩ đã lần lượt ra đi, và rồi cũng sẽ đến lượt chúng ta nữa. Trong khi đó, Đảng CSVN vẫn ngang nhiên khống chế Quê Hương VN yêu dấu. Cho nên, tôi mới tự hỏi: “Cộng Đồng Người Việt QG còn phải tiếp tục chống Cộng tới bao giờ nữa?”
  • CHỐNG CỘNG ĐẾN BAO GIỜ?
Kính thưa Quý Vị,
Nhân Ngày Truyền Thống CSQG năm nay, chúng ta hãy bình tâm ít phút để hỏi mình và hỏi nhau:
- Có phải từ năm 1930 cho tới năm 1975, mọi người chúng ta đã cầm súng quyết liệt chống Việt Cộng. Thưa, phải không Quý Vị?
- Có phải từ năm 1975 đến giờ, chúng ta vẫn còn đang tiếp tục chống Cộng tại hải ngoại. Thưa, phải không Quý Vị?
Vâng, đúng thế, chúng ta đã chống Cộng và chúng ta vẫn còn đang chống Cộng. Chống mãnh liệt. Nhưng một câu hỏi kế tiếp mà chúng ta không dễ dàng tìm ra câu trả lời. Đó là: “Chúng ta sẽ còn phải tiếp tục chống Cộng cho tới bao giờ nữa?”

Trước khi tìm ra câu trả lời, chúng ta cần nhớ rằng chống Cộng là một nhiệm vụ lịch sử của mỗi người Việt Quốc Gia. Khi nói đến lịch sử là phải nói đến thời gian, mà lịch sử của một dân tộc kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác, chứ không phải ngắn gọn vào đời sống của một cá nhân. Cha ông chúng ta đã phải trường kỳ chiến đấu, phải chống giặc ngoại xâm cả trăm năm, cả ngàn năm. Còn việc chống Cộng của thế hệ chúng ta mới chỉ có 84 năm. Tôi thiết nghĩ chưa phải là một thời gian quá dài.
Từ đó, tôi tìm ra câu trả lời cho vấn nạn: “Người Quốc Gia sẽ còn chống Cộng tới bao giờ?” Câu trả lời ngắn gọn, dứt khoát là: “Chúng ta phải chống Cộng cho tới khi nào Cộng Sản chết!” Sẽ có người hỏi: Nếu chúng ta chết mà Đảng CSVN chưa chết thì sao? Thưa, không sao cả. Thế hệ này qua đi mà CSVN chưa chết thì thế hệ sau sẽ tiếp tục chống, chống cho tới khi nào CSVN chết mới thôi.

Có nhiều lý do dẫn tới cái chết của Đảng CSVN: Nó chết vì người quốc gia khai tử nó. Cũng có thể nó chết vì các đảng viên đấm đá nhau. Nó cũng có thể chết vì quan thày Trung Cộng khai tử nó.
Lý thuyết là như vậy, nhưng thực tế, tôi có lý do để tin rằng: CSVN sắp chết rồi. Theo quy luật của Trời Đất, trước khi một người, một sinh vật hay một đảng chính trị chết thì phải có thời gian hấp hối. Bằng chứng mới nhất báo hiệu tình trạng hấp hối của Đảng CSVN xảy ra đúng vào ngày 1-5-2014, Trung Cộng đem dàn khoan Hải Dương 981 vào hải phận VN, không phải để khoan dầu, vì ở đó không có dầu, mà là để đào mồ chôn Đảng CSVN tại đó.
Tại sao tôi dám nói như thế? Vì nhờ cái dàn khoan này mà bộ mặt bán nước của Hồ Chí Minh, của Phạm Văn Đồng, của Đảng CSVN đã rõ như ban ngày. Chính cái Đảng CS này thú nhận đã bán đất, bán biển để đổi vũ khí của Trung Cộng để giết hại đồng bào và bức tử chính thể VNCH.
Và ở đâu cũng vậy, những quân bán nước thì trước sau gì cũng bị nhân dân vùng lên xử tội thôi.

  • VẤN ĐỀ THỜI SỰ: CHỐNG VIỆT CỘNG và TÀU CỘNG

Trong những ngày qua, nhiều ý kiến, nhiều giải pháp, nhiều lời kêu gọi từ quốc nội đến hải ngoại đã đưa ra, nhằm chỉ đường cho Đảng CSVN chống Trung Cộng. Nhưng giải pháp nào thì cũng đưa tới cái chết của CSVN. Tôi xin bàn về một số giải pháp được nhiều người đề cập tới:

1. Giải pháp quân sự: Giặc vào nhà, đàn bà cũng phải đánh. Dân chúng đã nổi lên biểu tình chống Trung Cộng, nhưng Đảng đã cản ngăn và còn đánh đập đồng bào, có ý dành độc quyền chống Tàu Cộng. Nhưng kính thưa Quý Vị, làm sao 4 triệu đảng viên CSVN có thể đánh lại được Trung Cộng? Đó là việc không tưởng. Ngược lại, rất có thể Trung Cộng sẽ đánh VN để dạy cho bài học thứ hai, bổ túc bài học thứ nhất đã xảy ra vào năm 1979. Có tin nói rằng trong suốt 39 năm qua, các tướng lãnh trong quân đội CSVN đã bị Trung Cộng nuôi cho béo mập cả rồi. Toàn thể cơ quan tình báo của VN đã bị Tàu khống chế. Vì thế, VN không còn sức để chống trả Trung Cộng bằng quân sự.

2. Cầu cứu Liên Minh Á Châu: Giải pháp này cũng thất bại, vì một số nước Á Châu đã thuần phục Trung Cộng rồi, như Lào và Campuchia. Một số nước không muốn dính vào cuộc chiến Trung-Việt, như Thái, Singapore, Mã Lai, Indonesia. Có một nước Á châu bị Trung Cộng xử ép y như VN, đó là Phi luật Tân, nhưng họ lo thân họ chưa xong, lấy gì để giúp VN. Cho nên, VN hoàn toàn cô đơn khi cầu cứu các nước láng giềng giúp để chống Trung Cộng.

3. Cầu cứu Hoa Kỳ: Chỉ có một siêu cường quốc có thể đương đầu với Trung Cộng để cứu VN, đó là HK. Thực tế, Phó Thủ Tướng VC kiêm Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã gọi điện thoại cầu cứu Ngoại Trưởng HK John Kerry rồi và ông Kerry đã trả lời, muốn gì thì khăn đóng áo dài qua HK mà tâu trình. HK thừa biết rằng men chiến thắng đánh đuổi Mỹ vẫn còn dính trên môi, trên miệng CSVN, mà giờ này CSVN lại mở miệng cầu cứu Mỹ thì những người có liêm sỉ không dám làm như vậy. Ngoài ra, ai cũng biết rằng Obama nói thì hay mà làm thì dở. Nghe Obama cam kết, hứa hẹn mà vội vui mừng thì quá ư là ngây thơ. Mà nghĩ cho cùng: Hoa Kỳ là ai? Hoa Kỳ không phải chỉ có Barrack Obama hay John Kerry, Hoa Kỳ lại có cả tiếng nói và lá phiếu của chúng tôi đây, những người đang ngồi trong căn phòng này và tất cả những người gốc Việt, mang quốc tịch Hoa Kỳ hiện đang sống trên khắp nước Mỹ. CSVN nên nhớ rằng chúng tôi đã thề sẽ chống Cộng cho đến chết, cho nên đừng hòng chúng tôi lên tiếng bênh đỡ. Chúng tôi có con đường đánh Tầu Cộng riêng của chúng tôi, nhưng sẽ không bao giờ có chuyện chúng tôi đi chung với CSVN để chống Trung Cộng.

Điều chúng tôi muốn gửi tới đồng bào yêu nước ở quốc nội là muốn chống Trung Cộng, trước tiên phải dẹp bỏ chướng ngại vật, tay sai của Tàu Cộng là Đảng CSVN. Chúng chỉ có cái tên khoe mẽ: Hùng-Dũng-Sang-Trọng, nhưng thực chất là Hèn-Dốt-Sai-Trật. Sau đó, một Hội Nghị Diên Hồng được thành lập bao gồm những người Việt Quốc Gia quốc nội và hải ngoại, đang mang quốc tịch của nhiều quốc gia trên thế giới, có đủ sức áp lực ngăn cản mộng Đại Hán của Tàu Cộng. Đừng sợ Tàu mạnh. Mới chỉ sơ sơ có các cuộc biểu tình tự phát của dân Việt chúng ta mà Tàu Cộng đã phải vội khăn gói về nước. Ở Hoa Kỳ, mới chỉ có một người mở chiến dịch lấy chữ ký gửi Toà Bạch Ốc mà chỉ nửa tháng đã có đủ cả trăm ngàn chữ ký để lưu ý Tổng Thống Obama. Đảng CSVN chỉ biết luồn cúi, chứ không bao giờ có khả năng làm được những việc như vậy.

4. Cầu cứu quốc tế: Quốc tế là những nước nào? Anh, Pháp, Đức, Gia Nã Đại, hay Úc chăng? Đừng quên rằng tại những nước đó, cũng có cả những người gốc Việt chống Đảng CSVN đến chết đấy. Họ cũng đang biểu tình chống Trung Cộng và đả đảo Đảng CSVN!

5. Kiện Trung Cộng tại Toà Án quốc tế: Giải pháp này xem ra hấp dẫn nhất và Nhà Nước VN có vẻ hồ hởi lắm, đến nỗi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hé lộ là VN đang cứu xét việc này.

Khi nói tới kiện tụng là phải nói tới: Ai kiện, kiện ai, tại sao kiện và kiện tại Tòa nào? Sau đó, thắng kiện thì sao? Thua kiện thì sao?

Ai kiện? CSVN là nguyên đơn. Kiện ai? Trung Cộng là bị đơn. Kiện việc gì? Việc Trung Cộng xâm phạm hải phận VN.

Kính thưa Quý Vị,

Đây sẽ là một vụ án rất phức tạp. Thời gian không cho phép tôi dài dòng, nên chỉ xin nói rất vắn tắt, dễ hiểu, để Quý Vị nắm được vài nét chính của vụ kiện, nếu xảy ra:

Trở về với lịch sử, ngày 4-9-1958, Tàu Cộng tự ý ra văn thư ấn định lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, đồng thời xác định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Chỉ 10 ngày sau (14-9-1958), Phạm Văn Đồng, khi đó với tư cách Thủ Tướng nước VN/DCCH ký công hàm gửi Trung Quốc xin “ghi nhận và tán thành” quyết định của Trung Quốc.

Để giải thích cho hành động ngu xuẩn và bán nước này, ngày 2-12-1992, Nguyễn Mạnh Cầm, lúc đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao giải thích rằng Bắc Việt biết rõ hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chính quyền miền Nam, chiếu Hiệp Định Genève 1954, nhưng CSVN đã phải ký ủng hộ Trung Cộng, vì “trong tình thế cấp bách, quan điểm lãnh đạo của ta là cần thiết, vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc”.
Quý Vị thấy rõ cái gian xảo của CSVN và Tàu Cộng. Chủ tớ về hùa với nhau đi cướp nhà hàng xóm. Đất đai của hàng xóm chủ đòi lấy, tớ vỗ tay tán thành. Đến khi giết được hàng xóm thì bây giờ chủ tớ phản bội nhau. Cùng một cách này hai Đảng CSVN và Tàu lừa bịp thế giới tự do để xé bỏ Hiệp Định Paris 1973 và bức tử VNCH. Tôi thiết tưởng đây là lúc Ủy Ban Vận Động Hiệp Định Paris 1973 và LS Lê Trọng Quát cần hoạt động mạnh để tái lập nền Cộng Hòa VN.

Nếu CSVN phát đơn kiện Tàu Cộng xâm lăng thì bị đơn là Tàu Cộng sẽ trả lời thế nào? Ngày 15-5-2014, Tiếng Nói Nhân Dân Trung Hoa đã trả lời trước dư luận quốc tế là Trung Quốc không hề vi phạm đất đai, hải phận Việt Nam, vì vào ngày 14-9-1958, Thủ Tướng Cộng Sản Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã ký văn thư tán thành chủ trương nới rộng hải phận của Trung Cộng để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.
Quý Vị thấy rõ cái mạnh và cái yếu của lời biện minh này. Mạnh là vì CSVN đã ủng hộ, vỗ tay tán thành cho Trung Cộng nới rộng hải phận, để xâm lấn đất đai VN. Yếu là vì như vậy là Tàu Cộng đã thú nhận Trường Sa và Hoàng Sa không hề bao giờ là của Trung Cộng, mà là do Phạm Văn Đồng dâng cho họ. Nhưng, khổ nỗi, vào lúc Phạm Văn Đồng ký văn thư đó, tức năm 1958, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền kiểm soát của chính phủ VNCH, chiếu Hiệp Ước Genève 1954, chứ không phải thuộc miền Bắc, cho nên văn thư của Phạm Văn Đồng hoàn toàn vô giá trị và rõ ràng chỉ là một âm mưu của hai Đảng CSVN và Trung quốc để xâm lăng đất đai của VNCH mà thôi.

Vậy thì lý luận mạnh của Trung Cộng lại là lý yếu của CSVN và lý luận yếu của Tàu Cộng lại là lý mạnh của VNCH hay một chính thể do dân chúng VN bầu ra. Nói cách khác, CSVN đi kiện là thua mà VNCH hay những người quốc gia đi kiện là thắng.

Quý vị hãy hình dung cuộc chất vấn trước Toà Án Quốc Tế, khi Tòa hỏi nguyên đơn là CSVN:

- Phạm Văn Đồng là Thủ Tướng nước nào?
- Thưa là Thủ Tướng nước CHXHCN chúng tôi.
- Sao Thủ Tướng các ông ký ủng hộ Trung Cộng mà bây giờ các ông lại đến đây kiện Trung Cộng? Đáng lẽ VNCH phải đi kiện mới đúng chứ? Thế VNCH bây giờ ở đâu?
- Dạ, kính thưa quý Tòa. Chúng tôi đã ủng hộ Trung Cộng nới rộng hải phận để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH để đổi lấy vũ khí. Nhờ vậy, chúng tôi đã bức tử VNCH ngày
30-4-1975 rồi ạ.

Tòa đập búa Công Lý cái rầm:

- Chính nguyên đơn đã đồng ý cho Trung Cộng mở rộng hải phận. Việc Phạm Văn Đồng có quyền ký văn thư hay không là thuộc nội bộ của chính phủ nguyên đơn, Toà Án Quốc Tế không quan tâm đến những thỏa thuận ngầm giữa hai Đảng CS để bức tử VNCH. Toà bác đơn. Và thế là Đảng CSVN thua kiện.

Nhưng cứ giả dụ là Toà Án Quốc Tế tuyên bố Trung Cộng xâm lăng VN đi. Tức là Trung Cộng bị xử thua. Rồi sẽ ra sao? CSVN cầm bản án đó để làm gì? Chúng ta nên nhớ rằng Toà Án Quốc Tế không có nhà tù, không có cảnh sát để thi hành án. Trung Cộng dù có thua kiện thì với cảnh cô thân, cô thế hiện nay của CSVN, hỏi rằng có quốc gia nào muốn bênh CSVN để đụng tới Tàu Cộng không? Ngược lại, nếu CSVN thua kiện thì Trung Cộng sẽ ồ ạt tiến chiếm lãnh thổ VN, căn cứ vào bản án cho họ thắng kiện.

Thêm nữa, giả như VN có đưa Trung Cộng ra trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để lên án hành động xâm lăng và áp dụng các biện pháp trừng phạt đi chăng nữa thì Trung Cộng lại là một trong 5 nước được quyền phủ quyết. Khi Trung Cộng phủ quyết thì quyết định của LHQ bị vô hiệu hóa.

Tôi cũng phải nói thêm một sự kiện này để Quý Vị nào chưa hiểu rành về tổ chức LHQ thì đừng nên kỳ vọng quá nhiều vào LHQ hay Toà Án Quốc Tế. Sau thế chiến thứ hai, các quốc gia lập ra Liên Hiệp Quốc và 5 nước chiến thắng của phe Đồng Minh đã được giao cho quyền phủ quyết, tức là bất cứ quyết định nào của LHQ ban hành mà 1 trong 5 nước này phủ quyết thì bản văn đó sẽ trở thành vô giá trị. Năm nước đó là: Anh, Trung Hoa Dân Quốc (quen gọi là chính quyền Đài Loan), Mỹ, Nga và Pháp. Cho đến năm 1971, Trung Cộng vận động rất mạnh để các quốc gia bỏ phiếu tước quyền phủ quyết của Đài Loan và giao cho Trung Cộng. Và nhờ sức mạnh, Trung Cộng cướp được quyền phủ quyết từ tay Đài Loan. Thế là từ đó đến nay, Trung Cộng có quyền phủ quyết.

Mấu chốt của vấn đề Trung Cộng chiếm đất đai của VN là vì Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã bán nước cho Trung Cộng. Đảng CSVN đang làm thân trâu ngựa, trả nợ cho “chiến thắng” VNCH. Nếu còn ai chưa tin thì hãy nhớ lại những sự kiện mới nhất này:

- Khi dân chúng VN uất ức biểu tình chống TC liền bị Đảng CSVN thẳng tay đàn áp.

- Trung Cộng công bố VN nợ họ 870 tỷ đô la để theo đuổi chiến tranh chống Mỹ. Và đây là lúc VN phải trả nợ.

- Đầu năm nay, vào ngày 19-1-2014, đền thờ Lê Duẫn được khánh thành ở Hà Tĩnh và ngoài cổng có treo biểu ngữ: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Tức là Đảng CSVN chỉ là bọn lính đánh thuê của Liên Xô và Trung Cộng.

- Ngày 9-5-2014, Hội Đồng Giám Mục VN đã báo động rằng: “Những thỏa ước tôn trọng tình hữu nghị giữa hai quốc gia láng giềng, giữa hai Đảng Cộng sản, thực tế đã cho thấy không mang lại ích lợi cho dân nước mà còn đem đất nước vào tình trạng lâm nguy.” Và tất cả những điều tôi vừa trình bày chỉ là đưa đến kết luận: Muốn chống Tàu Cộng, đồng bào VN trong cũng như ngoài nước phải khai tử Đảng CSVN.



Đã 39 năm qua, kể từ 1975, chúng ta tranh đấu cho Nhân Quyền tại VN. Vậy mà chưa hề có một tia sáng Nhân Quyền nào xuất hiện. Lý do dễ hiểu là Cộng Sản làm gì có Nhân Quyền để mà cho. Chúng ta đã lầm. Quốc tế cũng lầm khi đòi hỏi những thứ mà Cộng Sản không hề có. Vậy từ nay, xin các nhà tranh đấu cho Việt Nam hãy đặt trọng tâm vào việc giải thể Đảng CSVN.


Trước tình thế hiện nay, không có một giải pháp nào để cứu nguy VN, ngoại trừ giải pháp phải thanh toán Đảng CSVN bán nước, trước khi đuổi quân xâm lăng ra khỏi VN. Không một quốc gia nào, không một tổ chức quốc tế nào, kể cả Liên Hiệp Quốc hay Toà Án Quốc Tế có thể cản ngăn được Trung Cộng xâm chiếm VN, ngoại trừ chính người VN phải ra tay làm việc này. Sức mạnh chính để chống Trung Cộng phải xuất phát từ người dân VN. Đảng CSVN không có tư cách gì để tồn tại trên đất nước VN nữa. Những phương cách Đảng này đưa ra để đương đầu với Trung Cộng chỉ là một màn kịch giữa hai Đảng CSVN và TQ nhằm kéo dài thêm thời gian, để hai Đảng này tìm cách đàn áp các phong trào yêu nước nổi dậy mà thôi. Nếu những người Việt quốc gia không nhận thức việc này thì sẽ xảy ra một vụ Thiên An Môn tại VN để hai Đảng CSVN và TQ thanh toán các phần tử yêu nước.

Khi nhìn đoàn biểu tình chống Trung Cộng tại một vài nơi, chúng ta thấy có những lá Cờ Đỏ Sao Vàng xuất hiện. Đây là một sự phi lý và nghịch thường. Cờ 5 Sao đẻ ra Cờ Một Sao. Cho nên Cờ Đỏ một Sao không bao giờ chống Cờ Đỏ 5 Sao. Chúng nó tuy hai nhưng là một. Cho nên, xin đừng ai hòa hợp, hòa giải với Đảng CSVN để chống Trung Cộng. Chúng ta hãy nhìn đoàn giáo dân thuộc Giáo Phận Vinh của Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp hay các giáo dân nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội và Saigon. Họ tập trung chống Trung Cộng trông rất oai hùng và hợp lý. Họ chỉ mang theo cờ Hội Thánh và các biểu ngữ chống Trung Cộng.


KẾT LUẬN

Vào năm 1963, Mục sư Luther King mơ có một ngày nạn kỳ thị màu da tại Hoa Kỳ chấm dứt. Vậy mà chỉ 46 năm sau, tức là vào năm 2009, ông Barrack Obama, một người da đen đã trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ này, những giấc mơ chính đáng đều có thể trở thành hiện thực.

Tàn lửa của Phật tử Lê Thị Tuyết Mai đã nhóm lên trước Dinh Độc Lập vào ngày 23-5 vừa qua. Tôi mơ tàn lửa này sẽ trở thành một biển lửa trong những ngày sắp tới để thiêu lụi Đảng CSVN.

Mới tuần trước, báo chí HK có đăng tin ông James Webb, cựu TNS đảng Dân Chủ, TB Virginia, đang nghiên cứu việc ra ứng cử Tổng Thống HK vào năm 2016. Ông Webb là một cựu chiến binh HK tham chiến ở VN và điểm đặc biệt, ông có vợ người VN là bà Lê Hồng, di cư năm 1975 từ Vũng Tàu. Tôi lại mơ HK có một đệ nhất phu nhân là một phụ nữ VN tỵ nạn CSVN. Bà sẽ cảnh giác chồng đừng nghe những gì Đảng CSVN nói, mà hãy tiêu diệt nó thì Việt Nam mới yên ổn.

Hiện giờ, sau 39 năm, tại các cơ quan chính phủ cũng như khắp các tổ chức của HK, đều đã có sự hiện diện của con cháu chúng ta. Trong quân lực Hoa Kỳ thế hệ thứ hai của người tỵ nạn Việt đã có người lên hàng Tướng Lãnh.

Tôi mơ thế hệ con cháu chúng ta, sẽ có một người da vàng, gốc Việt, trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tôi mơ rằng vị Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Việt này khi nhận chức mà Đảng CSVN vẫn còn hoành hành tại VN thì ông sẽ là người khai tử chế độ Cộng Sản tại VN, để trả nợ xương máu cho gần 58.000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh bảo vệ tự do cho miền Nam VN và trả lại danh dự cho những quân cán chính VNCH.

Tôi mơ rằng vị Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Việt này sẽ quỳ lạy trước bàn thờ Tổ Tiên và khấn rằng: “Thưa Cha, thưa Mẹ, thưa Ông Nội, Bà Nội, thưa Ông Ngoại, Bà Ngoại... Con biết rằng các Ngài đã chống Cộng cho đến chết. Nay với quyền lực của Tổng Thống Hoa Kỳ, con đã khai tử Đảng CSVN rồi. Con xin đưa hài cốt các Ngài trở về an nghỉ mãi mãi trong lòng Đất Mẹ, nơi các Ngài đã sinh ra và dành cả một đời hy sinh để bảo vệ. Quê Hương Việt Nam nay đã hoà bình, không còn bóng dáng Cộng Sản. Xin các Ngài hãy an nghỉ giấc ngàn thu”.

Xin cám ơn Quý Vị.
TRẦN AN BÀI