Welcome to LuatKhoaSanJose Blog

Liên lạc, gởi bài tham gia, góp ý... xin Email đến: hoingoluatkhoa@yahoo.com

2/01/2013

KỶ NIỆM ĐẸP VỚI NHỮNG NGƯỜI CHUYÊN LÀM TÍNH CỘNG


Tôi đã sống dưới nhiều chế độ chính trị khác nhau ở Việt nam, kể từ thời thơ ấu dưới ách nô lệ của thực dân Pháp trước năm 1945 – tiếp theo đến trào Việt minh cộng sản, rồi đến thời chính thể quốc gia và sau năm 1975 thì lại phải sống dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản. Và tôi cũng đã sống sót sau cuộc chiến tranh kéo dài liên tục trong 30 năm (từ 1945 đến 1975) và cả sau những năm bị giam giữ trong nhà tù cộng sản (từ 1990 đến 1996), nhưng tôi vẫn giữ được sự lạc quan yêu đời bởi vì tôi luôn gặp được những con người có nhân cách cao quý - họ đều là những người tận tâm hết sức góp phần xây dựng cho nhân quần xã hội - mà họ cũng thường chia sẻ với tôi những tình cảm êm đẹp nồng thắm, khích lệ cổ võ cho tôi tiếp tục hăng say dấn thân phục vụ xã hội. Nay nhân dịp cuối năm Nhâm Thìn 2012, tôi xin lần lượt ghi lại những kỷ niệm thật dễ thương mà các nhân vật đó đã để lại cho tôi. Họ đều là những người siêng năng cần mẫn trong mọi công việc có ích lợi cho cộng đồng xã hội – mà hầu như không hề gây ra sự thù hằn ân óan gì với bất kỳ một ai cả. Vì thế mà tôi mới gọi họ là “những người chuyên làm tính cộng”. Đến nay, thì tất cả đã ra người thiên cổ - nhưng sự nghiệp của họ để lại bất kể dù lớn nhỏ ra sao, thì vẫn được nhiều người biết đến và quý trọng.


1. Nhà Văn Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)


Tại miền Nam trước năm 1975, thì ít có người mà có nhiều tác phẩm được xuất bản và được công chúng ưa chuộng như nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Tính ra trong 25 năm, từ 1950 đến 1975, ông đã cho xuất hiện đến 100 cuốn sách và đến mấy trăm bài báo có giá trị. Đặc biệt là những cuốn trong “Tủ sách Học Làm Người” như “Đắc Nhân Tâm”, “Quẳng Gánh Lo Đi mà Vui Sống”..., thì được tái bản rất nhiều lần, kể cả sau năm 1975 nữa.

Tôi có duyên được quen biết thân thương gần gũi với ông trong một thời gian dài, kể từ năm 1976 cho đến ngày ông lặng lẽ qua đời vào cuối năm 1984 ở Saigon. Lần nào gặp ông, tôi cũng đều học hỏi được nhiều kinh nghiệm thật quý báu của một người suốt cuộc đời say mê với chuyện chữ nghĩa sách vở báo chí. Qua ông, tôi còn có dịp gặp được cả những nhân vật họat động văn hóa nổi tiếng, điển hình như học giả Đào Duy Anh từ Hanoi vào, hay cụ Giản Chi Nguyễn Hữu Văn là người có tác phẩm viết chung với ông nữa. Có lần ông tâm sự với tôi là giới lãnh đạo chóp bu ở Hanoi, họ cũng mâu thuẫn giữa phe này phái kia, tranh chấp đấu đá với nhau dữ dằn lắm. Thật đó là điều bất hạnh cho dân tộc mình dưới cái thời mạt vận này. Ông còn nói: “Tôi già yếu rồi, đã đến tuổi 70, chẳng còn làm được điều gì quan trọng nữa. Nhưng thế hệ các ông đang ở vào lớp tuổi 40 - 50 là cái tuổi sung mãn nhất, thì dưới cái chế độ này, các ông lại chẳng có thể thi thố tài năng để mà giúp dân cứu nước. Thật là điều uổng phí quá đi mất. Tôi nghĩ thật buồn cho tương lai của đất nước này!...” Ông còn khuyên tôi đại khái là: “Nếu được ai ở ngoại quốc bảo lãnh, thì ông nên cứ ra đi, vì chỉ ở một nước tự do, ông mới có cơ hội được hoạt động thoải mái đúng theo khả năng và chí hướng của mình...”.


Ông và tôi hay có dịp trao đổi sách báo với nhau, vì trước năm 1975 mỗi khi có dịp đi ngọai quốc, thì tôi thường được các bạn tặng cho một số sách mới xuất bản. Và có một số cuốn tôi mang đến cho ông đọc, ông rất thích với mấy tài liệu này, rồi chúng tôi có thể say sưa thảo luận với nhau về một vài chủ đề do cuốn sách đó gợi ra. Điển hình là ông rất chú ý đến các tác phẩm của vị đại sư người Pháp là Raymond Aron vừa là một giáo sư dậy ở Đại học Sorbonne ở Paris, vừa là một tác giả và nhà báo có danh tiếng khắp thế giới kể từ thập niên 1950 trở đi. Ông tặng cho tôi nhiều cuốn sách do chính ông viết hay do ông mua sắm thời trước.

Có lần ông nói với tôi, nguyên văn như sau : "Tôi đang chuẩn bị cho “mon grand départ” (chuyến đi vĩnh biệt), nên đã sọan ra các sách để tặng cho bà con bạn bè thân thiết - sau khi đã dành lại một số để riêng cho cháu nội tôi hiện ở bên nước Pháp. Tiện đây, tôi xin gửi ông thêm ít cuốn nữa riêng cho ông và các cháu con của ông…".
Vào năm 1979 – 1980, có người cháu ở bên Thụy Sĩ về thăm và biếu ông một số sách mới xuất bản ở Pháp, ông cũng đều cho tôi mượn để đọc. Phải nói rằng hồi đó tại Việt Nam đang ở vào giai đọan “bế quan tỏa cảng”,  mà có được loại sách mới mẻ này từ nước ngòai đem về để mà nghiền ngẫm, thì đó quả là điều không có gì thú vị hơn nữa được. Tôi đọc xong, rồi còn chuyền cho một vài bạn khác coi xem nữa. Bọn chúng tôi đều còn nhớ đến cái kỷ niệm vui vui ngộ nghĩnh này.



2. Luật Sư Trần Văn Tuyên (1913-1976)


Luật sư Trần Văn Tuyên là một người họat động chính trị nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975. Ông đã từng giữ chức vụ Bộ trưởng, Phó Thủ Tướng và từ năm 1971 ông còn là một Dân biểu Quốc Hội nữa.

Đầu năm 1975, ông được bầu vào chức vụ Thủ lãnh Luật Sư Đoàn Tòa Thượng thẩm Saigon. Sau 30 tháng Tư năm 1975, ông bị đi tù cải tạo và chết trong trại Hà Tây gần Hanoi vào cuối năm 1976. Hồi còn niên thiếu, ông là bạn học cùng lớp với nhà văn Nguyễn Hiến Lê tại trường Bưởi Hanoi hồi năm 1930. Ông cũng là một trong những đoàn viên họat động hăng say sớm nhất của Phong trào Hướng Đạo Việt Nam ngay từ thời kỳ đầu thập niên 1930.
Từ năm 1965 trở đi, tôi thường có dịp tham gia sinh họat chung với các bạn chuyên viên trong những buổi gặp gỡ trao đổi về tình hình xã hội chính trị tại tư gia của Luật sư Tuyên trên đường Hồng Thập Tự xế cửa Vườn Hoa Tao Đàn. Phần đông trong chúng tôi lúc đó đang ở lứa tuổi 30 – 40, nên cứ theo lối xưng hô của gia đình Hướng Đạo, thì gọi Luật sư Tuyên là anh, mặc dù có người chỉ ngang tuổi với Luật sư Trần Tử Huyền là trưởng nam của ông mà thôi.

Là người thông hiểu nhiều về sinh họat chính trị cũng như ngọai giao, nên Luật sư Tuyên thường giải thích chỉ dẫn cho anh em chúng tôi về những sự kiện cũng như chiều hướng phát triển trong thế cờ chính trị quốc tế giữa hai khối Mỹ và Liên Xô. Ông rất tế nhị, không bao giờ rủ rê lôi cuốn một ai trong chúng tôi tham gia vào một tổ chức chính trị nào cả. Riêng đối với tôi, thì ông khích lệ cổ võ cho những công tác xã hội anh em thanh niên sinh viên chúng tôi đang theo đuổi tại các quận 6, 7 và 8 ở miền ven đô Saigon. Ông gọi đó là một thứ “micro-réalisation” (thành tựu nhỏ bé) rất thích hợp cho giới trẻ trong hoàn cảnh chiến tranh sôi động hồi giữa thập niên 1960 đó.

Buổi sáng sớm, trước khi đi làm, có lần tôi đến thăm ông, thì được dẫn lên tầng lầu để cùng uống cà phê và chuyện trò thân mật với ông. Lúc đó, ông còn bận bộ đồ bà ba trắng và đang chỉ dẫn bài vở cho cô con gái trong nhà gọi là Cô Dế. Trong phòng các sách báo được chất la liệt trên các kệ khá cao xếp dọc theo những bức tường quanh phòng. Các sách này, sau khi ông mất, thì được phu nhân là Bà Phạm Thị Côn cho tôi ưu tiên chọn một số để giữ làm kỷ niệm,  trước khi bà cho đem bán hết đi. Tôi vẫn còn nhớ bữa ăn cơm cuối cùng với ông tại nhà trước ngày ông đi “trình diện để đi học cải tạo”, thực tế là đi ở tù.
Vào năm 1978, qua Bác sĩ Nguyễn Văn Ái mới về từ trại tù ngòai miền Bắc, tôi được biết chi tiết về cái chết của ông vào cuối tháng Mười năm 1976, đó là do bệnh xuất huyết mạch máu não, khiến cho ông bị gục ngã ngay tại hội trường trước khi ông kịp trình bày về một đề tài trong buổi sinh họat chính trị của các trại viên. Tôi đem chuyện này kể lại với nhà văn Nguyễn Hiến Lê, thì ông nói là ông rất khâm phục “sự khẳng khái cang cường của anh Tuyên trong khi đối đáp với cán bộ cộng sản ở trong tù”.

3. Linh Mục Nguyễn Bình An - Cựu Tuyên Úy Phong Trào Pax Romana - ( từ trần năm 1970).

Linh mục An thuộc dòng Phanxico được coi là một vị chân tu, có cuộc sống tu hành khổ hạnh, khiêm nhường và nghiêm túc. Tên của ông thường được viết là Fr. Pacific Nguyễn Bình An OFM (Chữ Fr là Frater, tiếng La tinh có nghĩa là Anh. Còn chữ OFM = Ordre des Frères Mineurs, tiếng Pháp có nghĩa là: Dòng của những Anh em khó nghèo). Mặc dầu được tu học nhiều năm ở bên Pháp, nhưng khi về nước, ông chỉ hạn chế sinh họat trong phạm vi thuần túy tôn giáo, chứ không hề tham gia với chuyện chính trị hay văn hóa xã hội nào cả.

Ông là vị Tuyên Úy đầu tiên của Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana hồi đầu thập niên 1960 ở Saigon. Vị Chủ tịch là Bác sĩ Nguyễn Văn Ái và Phó Chủ tịch là Luật sư Nguyễn Văn Huyền và tổng số thành viên họat động lúc đó thì có chừng 30 anh chị em. Trong số này, có khá đông người đã từng du học ở Âu châu hay Mỹ về. Những người du học ở Âu châu như Bác sĩ Ái, các Giáo sư Bùi Xuân Bào, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung … thì đều đã từng sinh họat chung với cha An hồi đầu thập niên 1950, vào lúc cha giữ nhiệm vụ Tuyên úy của Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam và có thời còn phụ giúp giáo xứ Việt Nam ở Paris nữa.
Với cương vị Tuyên Úy, cha An đã tận tâm hướng dẫn về mặt sinh họat đạo đức tâm linh cho anh chị em trí thức Công giáo mà thường gặp gỡ với nhau trong các phiên họp định kỳ mỗi tháng, để cùng tham dự thánh lễ và sau đó thì trao đổi thảo luận với nhau về những vấn đề liên quan đến niềm tin tôn giáo và sự dấn thân nhập cuộc của người tín đồ công giáo đối với xã hội. Nhưng sau mấy năm, thì ông xin nghỉ vì bệnh tật đau yếu và đã sớm lìa đời vào năm 1970, lúc chưa đày 60 tuổi.

Tôi bắt đầu tham gia với Pax Romana vào năm 1961 lúc mới du học tu nghiệp ở Mỹ về. Vì là một thành viên trẻ tuổi nhất, nên tôi hay được trao phó làm công việc liên lạc và thư ký của tổ chức. Do vậy mà hay có dịp tiếp xúc với vị Tuyên úy để nhờ ông hướng dẫn trong việc giải quyết công việc văn phòng này nọ của Phong trào. Tôi thấy lúc nào cha An cũng siêng năng cần mẫn với đủ thứ công việc và cư xử với mọi người bằng một thái độ khoan hòa nhân ái. Ông luôn tìm cách giải quyết sự việc chu đáo, gọn gàng và rất có lý có tình. Rõ ràng là ông thấm nhuần cái chủ trương “Tách rời Tôn giáo ra khỏi Chính quyền Nhà nước” như vẫn áp dụng tại Âu Mỹ, và ông có thái độ khoan dung và tôn trọng đối với bất kỳ tôn giáo nào. Đó là điều thật phù hợp với tinh thần đa nguyên tôn giáo (pluralisme religieux). Ông luôn kêu gọi các người trẻ tìm hiểu thêm về chủ trương “Phát triển Tòan diện và Điều Hòa” như Nhóm Kinh tế Nhân bản ở Pháp đã cổ vũ từ trước Đệ nhị Thế chiến.

Có thể nói cha An đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển Pax Romana Việt Nam hồi đầu thập niên 1960. Ông được sự tin tưởng và quý mến của tất cả mọi thành viên trong tổ chức này. Vì không tham gia họat động chính trị, nên Pax Romana ít được quần chúng ngoài giới Công giáo biết đến. Nhưng, tiếc thay - cũng như mọi tổ chức văn hóa xã hội và tôn giáo khác - sau năm 1975 thì Pax Romana ở Việt nam cũng ngưng họat động.

 4. Thầy Nguyễn Ngọc Đạt tức Hòa Thượng Thích Huệ Đăng (1940 - 2009).

Thầy Đạt là một trong những tù nhân chính trị cùng ở chung với tôi lâu nhất


từ năm 1991 đến năm 1996, lần lượt ở trại Khám lớn Gia Định (số 4 Phan
Đăng Lưu gần chợ Bà Chiểu), rồi đến nhà tù Chí Hòa, và sau cùng ở trại
Z30D tại Hàm Tân Phan Thiết.

Ông người cao lớn, nước da ngăm đen và có giọng nói sang sảng. Sau năm 1975 thầy Đạt đã bị bắt giam liên tục trong nhiều năm, tính ra ông phải ở tù tổng cộng đến trên 20 năm. Khi ở trong tù, ông là người chuyên tâm nâng đỡ an ủi nhiệt tình nhất cho các tù nhân chính trị đồng cảnh. Ông rành về thuốc nam, nên ra tay chữa chạy cho nhiều người bị bệnh trong số các tù nhân - nhất là các người tù hình sự - mà có khi cho cả cán bộ coi tù nào tìm đến nhờ vả nơi ông nữa. Nhờ được gia đình tiếp tế đày đủ, ông luôn rộng rãi chia sẻ các thực phẩm và cả thuốc men cho những anh em đang thiếu thốn. Là một người năng nổ tháo vát, lúc còn được tự do ở ngoài đời, ông đã tổ chức xây dựng được nhiều cơ sở chùa chiền, mà cơ sở nổi tiếng nhất là chùa Phước Duyên trong địa hạt huyện Diên Khánh Nha Trang. Ông vừa qua đời vì bệnh vào năm 2009, sau khi được trả tự do mấy năm.

Sống chung với Thầy Đạt nhiều năm trong tù, tôi có dịp chia sẻ với ông về nhiều chuyện - mà điều đáng nhớ nhất là kinh nghiệm liên kết giữa các tù nhân chính trị với nhau. Ông nói: "trong đợt ở tù lần trước, tôi gặp gỡ quen thân với nhiều tu sĩ bên Công giáo cũng như bên Tin Lành, Cao Đài và Hòa Hảo. Sau này khi ra tù rồi, thì tôi cũng sẽ tìm cách đến thăm hỏi các vị đó. Mình nên coi thời gian chung sống gần gũi với nhau trong cái nhà nhỏ này, thì đó chính là lúc cho chúng ta thông cảm, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau sâu sắc hơn - để sau này càng dễ dàng hơn cho việc cùng cộng tác gắn bó chặt chẽ với nhau trong công cuộc xây dựng tương lai tốt đẹp cho quê hương đất nước mình".

Quả thật, Thầy Đạt là người có tầm nhìn xa và có một lập trường quốc gia kiên định vững chắc. Rất tiếc là tôi đã phải chia tay với ông vào đầu năm 1996, sau 4 năm chúng tôi cùng ở chung với nhau trong trại tù Hàm Tân Phan Thiết. Sau này, qua một số thân nhân của Thầy hiện sinh sống ở California, tôi cũng đã có dịp liên lạc thư từ thăm hỏi với Thầy, và có lúc lại còn nói chuyện trực tiếp qua điện thọai với ông nữa. Nhưng sự ra đi hơi sớm của ông đã làm cho dự tính hành động chung của Thầy với nhiều bạn hữu cùng chí hướng khác đã không thể thực hiện viên mãn được. Dầu vậy, tôi vẫn hy vọng rằng hiện vẫn còn nhiều người trong chỗ thân thiết vời Thầy sẽ tiếp tục bằng cách này hay cách khác hun đúc cái tinh thần dấn thân nhập cuộc nhằm phục vụ quốc gia dân tộc trong giai đọan mới, với lớp người trẻ đầy sự nhiệt thành và sự hiểu biết rộng rãi về khoa học kỹ thuật thích nghi với đòi hỏi của thế giới hiện đại vậy.


 5. Một số nhân vật khác nữa

Bài viết đã dài rồi, tôi chỉ xin ghi thật vắn tắt về kỷ niệm với một số nhân vật đáng mến khác mà trong nhiều năm họat động xã hội, tôi đã có duyên gặp gỡ sát cánh thân tình với họ.

       A. Trước hết, xin kể đến hai vị tu sĩ Phật Giáo là Giám Đốc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Việt Nam, đó là Thầy Thích Thanh Văn (mất năm 1972 vì tai nạn xe hơi) và Thích Châu Tòan (mất năm 1974 vì bệnh).

Cả hai vị Giám đốc này đều là những người toàn tâm toàn ý với công việc đào tạo hướng dẫn cho giới thanh niên Phật tử dấn thân nhập cuộc với công tác phục vụ đồng bào, đặc biệt là bà con ở nông thôn và các nạn nhân chiến cuộc vào các thập niên 1960–1970 trước 1975.
Tôi đã có nhiều dịp sát cánh với cả hai vị Giám đốc thật trẻ tuổi và năng nổ này trong các công tác từ thiện nhân đạo, đặc biệt là việc cứu trợ nạn nhân chiến cuộc từ các tỉnh miền Trung hồi năm 1972-1974 của tổ chức Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Nhưng không may, cả hai vị đều lìa đời quá sớm, để lại sự thương tiếc cho bao nhiêu anh chị em trong Đại Gia đình Thanh niên Phụng Sự Xã Hội cũng như cho các thân hữu khắp nơi.

     B. Nữ tu người Pháp Marie -Therèse  De Maleissye- Melun (1916-2005)


Bà Marie-Thérèse là một nữ tu thuộc Nhà Dòng Phan Sinh Truyền giáo (Franciscaines Missionnaires) tại Paris. Bà là một người có lòng đạo hạnh sâu sắc và hoạt động rất năng nổ tích cực tại nhiều quốc gia ở Á châu như Indonesia, Mã lai, Singapore và Việt Nam.
Từ năm 1969, tôi đã có dịp gặp gỡ trao đổi với bà về kinh nghiệm họat động xã hội. Và từ 1970, bà đã giới thiệu tôi tham gia sinh họat với tổ chức INODEP (Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc) - mà bà là một thành viên sáng lập tiên khởi và cũng là một nhân vật chủ chốt trong ban điều hành.
Vào tháng 6 năm 2012, tôi đã có dịp viết về bà khi trở lại thăm thành phố Paris – trong bài “Tôi đã khóc tại Vườn hoa Luxembourg” ghi lại cái cảm xúc bùi ngùi thương cảm của mình khi được tin bà đã mất từ năm 2005, mà mãi đến lúc đó tức là sau 7 năm tôi mới được biết tin. Cũng trong dịp này, tôi cũng đã gặp hai tác giả của cuốn sách Tiểu sử của Marie Thérèse nhan đề là “Passionnément” xuất bản năm 2009 (Tràn đày Say mê) nữa, đó là chị Colette Humbert và Brigitte de la Bouillerie.

     C. Anh Gene Stoltzfus (1940-2010) 


Hồi đầu thập niên 1960, Gene Stoltzfus, người Mỹ tham gia với tổ chức Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Ttế (IVS = International Voluntary Services) hoạt động tại Việt Nam, nên anh quen biết nhiều với giới thanh niên sinh viên chúng tôi vào thời ấy. Sau đó anh trở về Mỹ để học thêm về Thần học và Á châu học (Asian Studies).

Gene Stoltzfus là một tín đồ xuất thân từ gia đình đã nhiều đời theo truyền thống Tin Lành Mennonite ở Mỹ. Năm 1988, Gene đứng ra sáng lập và điều hành tổ chức CPT (Christian Peacemaker Team = Đoàn Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo) - nhằm đưa các thiện nguyện viên đến những vùng có tranh chấp để tìm cách thuyết phục các phe đối nghịch cố gắng dùng cách thương thuyết và thỏa hiệp (compromise) nhằm giải quyết những bất đồng dị biệt giữa hai bên, hơn là phải dùng đến bạo lực và chiến tranh. CPT được các tôn giáo yêu chuộng hòa bình (Peace churches) yểm trợ, nhưng họ lại không hề tìm cách giảng đạo như các vị thừa sai. Vì đứng giữa hai phía tranh chấp, nên nhiều khi các đoàn viên CPT phải chịu nhiều sự nghi kỵ, áp lực từ cả hai phía đối nghịch, đến nỗi có người bị thiệt mạng do các người quá khích gây ra.

Tôi có dịp gặp lại anh Gene Stoltzfus vào năm 2008 tại Pennsylvania, lúc đó anh mới về nghỉ hưu và râu tóc đã bạc trắng - trông y hệt như Ông già Noel vậy. Anh đã qua đời vì bệnh tim ở Canada vào năm 2010 khi mới vào tuổi 70, và tôi thật lòng thương tiếc con người có lòng đạo hạnh và dấn thân hết mình cho công cuộc xây dựng Hòa Bình tại nhiều nơi khắp thế giới này.

     D. Bác Sĩ Trần Nguồn Phiêu (1927-2011)

Bác sĩ Trần Nguôn Phiêu là một trong những vị Bộ trưởng Xã hội được nhiều người quý mến nhất ở miền Nam Việt nam trước năm 1975. Tính người hiền hậu đằm thắm, Bác sĩ Phiêu đặc biệt chú trọng nâng đỡ các cơ sở xã hội y tế do các tổ chức tôn giáo điều hành mà thường được sự tham gia thiện nguyện đông đảo của giới tín đồ. Tôi được quen biết gần gũi thân thiết với ông ở Việt Nam từ những năm sau vụ tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 qua những công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc.

Qua tỵ nạn bên nước Mỹ từ năm 1975, Bác sĩ Phiêu tiếp tục hành nghề chữa bệnh cho người dân tại miền nông thôn ở tiểu bang Texas.Ông còn vận động xây dựng cơ sở phụng tự và tổ chức sinh họat cho giới Phật tử ở thành phố Amarillo nơi gia đình ông cư ngụ. Ngòai ra, ông còn viết sách tố cáo việc tàn sát ở miền Nam trong các năm 1945 - 47 do người cộng sản Đệ Tam theo chủ trương sắt máu của Stalin – như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai - gây ra đối với các nhân vật ái quốc theo khuynh hướng Đệ Tứ Quốc Tế - điển hình là các ông Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch v.v…Những nạn nhân này cón được người cộng sản gọi họ là Trostkyst theo tên của lãnh tụ Leon Trostky – ông này cũng bị Stalin sai người đến ám sát tại Mexico năm 1940.

Bác sĩ Phiêu quả thật là một người trí thức dấn thân hết mình trong công cuộc phục vụ quốc gia dân tộc. Ông ra đi để lại sự thương tiếc sâu xa cho rất nhiều người vậy./
San Clemente California, tháng 11 năm 2012

Hồi tưởng của tác giả Đoàn Thanh Liêm