Welcome to LuatKhoaSanJose Blog

Liên lạc, gởi bài tham gia, góp ý... xin Email đến: hoingoluatkhoa@yahoo.com

11/14/2013

HỌC LUẬT TẠI ĐẠI HỌC LUẬT KHOA


HỌC LUẬT TẠI ĐẠI HỌC LUẬT KHOA
 Thời Việt Nam Cộng Hòa

*****************

HQ Thiếu Úy Nguyễn Văn Phảy
SV năm thứ 4 Cử Nhân LK
ban Công Pháp
Niên Khóa 1974-1975
Đôi lời tâm sự:
Có một số người nói rằng những sinh viên học luật là những học sinh dở ở bậc trung học. Lời nhận xét đó có hơi quá đáng chăng?. Có thể nói rằng Đại học Luật khoa Sài Gòn không phải là nơi dành cho những sinh viên học dở mà phải nói là nơi tạo nhiều cơ hội cho mọi người để tiến thân hay yêu thích nghề nghiệp liên quan tới luật pháp như luật sư, thẩm phán, hoặc thuộc về các lãnh vực hành chánh, ngoại giao, thương mại, chính trị, kinh tế, xã hội, ngay cả trong quân đội cũng có nhiều ưu điểm để tiến thân v.v.

_________________________________________________


Trong 4 năm đầu học luật của Ban Cử Nhân Luật, sinh viên không bị bắt buộc phải đi đến giảng đường đại học thường xuyên để nghe giáo sư giảng dạy như các sinh viên của các Đại học Khoa học, Kỹ thuật phải vào lab. để thực tập hoặc làm thí nghiệm. Nhờ vậy mà những sinh viên luật khoa có thể vừa đi làm vừa đi học, miễn sao phải cố gắng học giỏi. Học chưa giỏi, chưa thuộc bài, chưa hiểu bài giảng của giáo sư thì khó mà thi đậu. Thấy dễ học mà không dễ thi đậu. Muốn lấy được chứng chỉ luật của mỗi năm học, sinh viên phải có trung bình điểm của tất cả các môn học là 10/20 trong một kỳ khảo sát. Không có môn học nào cho là quan trọng hơn môn nào.


Mỗi năm học Luật trung bình có từ 11 đến 12 môn học. Vì vậy muốn có văn bằng Cử Nhân Luật nhiều sinh viên phải rất cố gắng học hành. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Luật Khoa, bạn có rất nhiều cơ hội tiến thân trong nghề nghiệp và trong các lãnh vực ngoài xã hội hoặc ngay trong quân đội mà chính quyền thời VNCH rất khuyến khích và đãi ngộ giới trí thức miền Nam Việt Nam. Các vị đại tá trong quân đội muốn được nhanh lên cấp tướng phải theo học khoá Cao Đẳng Quốc Phòng và có một số giáo sư Đại học Luật khoa được mời đến giảng dạy. Trụ sở được tọa lạc trên đường Thống Nhất bên trái cổng vào sở thú. Kể từ năm thứ 3 Luật, tôi thường đến đó mua tập san Quốc Phòng hàng tháng hay định kỳ để xem, vì các giáo sư Đại học Luật khoa thường viết bài và đăng trong đó. Cũng có những câu hỏi trong những đề thi được các giáo sư trích từ những bài viết của mình đăng trong tập san Quốc Phòng.
Là một cựu sinh viên Đại học Luật khoa Sài Gòn Ban Công Pháp, tôi xin ghi lại việc học luật của tôi để góp phần làm sáng tỏ chương trình đào tạo của Đại học Luật khoa Sài Gòn trước tháng 4 năm 1975.


Ghi danh học luật: Sau khi tốt nghiệp bậc trung học tháng 7 năm 1970, tôi tình nguyện gia nhập vào quân chủng Hải quân và trình diện tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải tại Tiên Sa Đà Nẵng vào ngày 15.10.1970. Sau mấy ngày tạm trú tại đó tôi cùng mấy chục bạn bè miền Trung khác được máy bay C130 chở vào phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và được di chuyển đến khu tạm trú Bạch Đằng 2 thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn. Khung trời mở rộng, trong quân ngũ, tại Sài Gòn tôi đã ghi danh học năm thứ nhất của Đại học Luật khoa Sài Gòn mặc dù vào năm đệ nhị và đệ nhất bậc trung học tôi theo học ban B với các môn chính như: Toán, Lý, Hoá.

Binh nghiệp và học luật: Sau 2 tuần lễ chờ đợi tại Bạch Đằng 2, tôi cùng các bạn gia nhập vào sĩ quan Hải quân được đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để thụ huấn căn bản quân sự 3 tháng. Sau thời gian nầy tôi và bạn bè SVSQHQ được đưa về tạm trú dưới các chiến hạm thuộc B Tư Lệnh Hạm Đội Sài Gòn. Tôi được phân phối xuống chiến hạm HQ329 đang hiện diện tại Sài Gòn vào thời gian trước tết Nguyên Đán tạm trú. Sau tết một tuần lễ, tôi và một số bạn bè nữa được phân phối đi thực tập trên Hỏa Vận Hạm HQ471. Như vậy tôi phải hiện diện trên chiến hạm và được phân chia thực tập ở các vị trí làm việc khác nhau theo ngành nghề chuyên môn trên chiến hạm khi chiến hạm ở bến hoặc đi công tác đến bất cứ hải cảng nào.
Trước khi chiến hạm rời bến thì tôi có mua một số sách luật năm thứ nhất của Ban Cử Nhân Luật đem theo chiến hạm. Khi rảnh rỗi tôi đem sách luật ra xem. Càng xem sách luật tôi càng thích thú. Tôi học các môn như Hiến Pháp nền Đệ Nhị Cộng Hoà do cố giáo sư thạc sĩ Nguyễn Văn Bông dạy tại giảng đường Quốc Gia Hành Chánh. Nhờ đó tôi mới hiểu thêm về định chế chính trị của một quốc gia. Hay là môn học về Kinh Tế trong đó có đề cập về nạn nhân mãn ở Trung Cộng do giáo sư thạc sĩ Nguyễn Cao Hách dạy, tôi hiểu rõ hơn về nước Trung Cộng có quá nhiều dân mà dân thì thiếu ăn, đời sống quá khổ. Hầu hết các môn học do các giáo sư tiến sĩ Đại học Luật khoa Sài Gòn dạy. Vào năm thứ nhất có học môn Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ do luật sư người Mỹ giảng dạy. Nói chung môn nào tôi cũng thích học để biết thêm và mở rộng kiến thức. Từ đó tôi ưa thích ngành luật. Sau 3 tháng thực tập trên HQ471, vào tháng 4 năm 1971, một số SVSQHQ nộp đơn gia nhập vào quân chủng Hải Quân trước tôi, được chuyển ra Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang để thụ huấn khoá Sĩ Quan Hải Quân. Tôi cùng một số bạn bè khác còn ở lại Sài Gòn và được hoán chuyển qua chiến hạm HQ10. Vì là loại hộ tống hạm nên chiến hạm phải đi tuần tiễu liên miên trên biển. Sau 2 tuần lễ công tác, chiến hạm mới cập bến hoặc về quân cảng Sài Gòn vài ba ngày để ban ẩm thực của chiến hạm mua sắm lương thực. Khi ở trên chiến hạm, ngoài những thời gian làm việc, trò chuyện với bạn bè, tôi lại đem sách luật ra xem cho mau hết thời gian trong lúc chiến hạm tuần tra ngoài khơi. Vì khoá đào tạo sĩ quan Hải Quân của chúng tôi được bắt đầu vào cuối tháng 9 năm 1971 nên tôi có thêm thời gian chuẩn bị cho kỳ thi luật được tổ chức vào tháng 6 năm 1971. Khi chiến hạm về Sài Gòn để lấy thêm nhiên liệu hoặc sửa chữa hay chờ đi công tác thì ngoài giờ làm việc trên chiến hạm tôi thường đến thư viện Quốc Gia ở đường Gia Long để học.


Thi cử: Đại học Luật khoa Sài Gòn tổ chức mỗi năm 2 kỳ thi dành cho sinh viên. Kỳ thi đầu tiên thường được tổ chức vào tháng 6. Kỳ thi kế tiếp được tổ chức vào giữa tháng 10 cùng năm. Nếu thí sinh chưa tham dự kỳ thi đầu hoặc thi bị rớt thì có thể ghi danh tham dự kỳ thi thứ hai. Thế là vào mùa hè năm ấy tôi ghi danh tham dự kỳ thi đầu tiên của năm thứ nhất thuộc Ban Cử Nhân Luật được tổ chức vào trung tuần tháng 6 năm 1971. Học luật cũng khá chua cay. Năm thứ nhất phải học 11 môn học. Môn nào cũng có nhiều sách dày cộm để học. Kỳ thi kéo dài thường 2 ngày cho kỳ thi viết, và nếu đậu kỳ thi viết sinh viên phải thi vấn đáp 9 môn còn lại. Năm ấy tôi thấy con số ghi danh thi là trên 22.000 sinh viên, nhưng chỉ có trên 2.500 thí sinh trúng tuyển năm thứ nhất. May mắn thay, tôi đã thi đậu kỳ thi thứ nhất luật khoa vào năm 1971. Thế là tôi có được chứng chỉ năm thứ nhất ban Cử Nhân Luật trước khi ra trường sĩ quan Hải Quân Nha Trang thụ huấn 2 năm.

Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang: Ở trường SQHQNT chúng tôi học rất nhiều môn học thuộc bậc đại học như toán học, ngành điện tổng quát, điện tử, điện truyền tin và ngành hàng hải v.v. nhằm trang bị cho một sĩ quan HQ có đầy đủ kiến thức tổng quát khi làm việc trên chiến hạm hay bất cứ nơi đâu. Khi ra hải ngoại học ngành điện ở đại học tôi mới thấy chương trình 2 năm đào tạo một sĩ quan Hải Quân rất hay và rất có giá trị. Những kiến thức mà tôi có được từ Việt Nam đã giúp tôi gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp ở đại học nơi xứ người.

Trong thời gian ở quân trường Nha Trang từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 9 năm 1973 tôi cũng đã đặt mua nhiều sách luật thuộc năm thứ 2, khoảng 12 môn, nhưng tôi không có thời gian nào rảnh để mà học. Thỉnh thoảng cuối tuần nào tôi không đi bờ ra phố Nha Trang thì mới đem sách luật ra xem cho biết mà thôi. Nơi quân trường chúng tôi phải học rất nhiều về ngành hàng hải. Trên chiến hạm hay một thương thuyền được trang bị những thiết bị gì thì mỗi sĩ quan Hải Quân phải biết. Do đó muốn được đi sĩ quan Hải Quân VNCH trước hết bạn phải có văn bằng tú tài toàn phần hầu hết là ban B (Toán, Lý, Hoá) để có thể theo học các môn học thuộc trình độ đại học. Sinh viên sĩ quan HQ nào trong khoá chúng tôi cũng sợ thi rớt từng thời kỳ thụ huấn hơn là thi tú tài. Mỗi 6 tháng thi một lần.

Vào cuối tháng 8 năm 1973, tôi tốt nghiệp 2 năm thụ huấn khoá sĩ quan Hải Quân ở Nha Trang với cấp bậc HQ Thiếu Uý. Nhờ đậu hạng khá cao - thuộc top ten- nên tôi được ưu tiên chọn đơn vị phục vụ. Tôi đã chọn chiến hạm HQ503 lúc đó đang nằm ụ để được sửa chữa (tiểu kỳ) tại Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn. Ngoài ra tôi thuộc trong danh sách 30 sĩ quan đậu điểm cao và khá tiếng Anh trong khoá nên được tuyển chọn về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sài Gòn để chuẩn bị đi thực tập trên Đ Thất Hạm Đội Mỹ.

Thế là sau khi tốt nghiệp SQHQ Nha Trang tôi không được đi phép một tuần mà phải về Sài Gòn. Về Sài Gòn tôi ghi danh tham dự kỳ thi thứ 2 của năm thứ hai ban Cử Nhân Luật được tổ chức vào giữa tháng 10 năm 1973. Với rất nhiều cố gắng, mỗi ngày ít nhiều thời gian tôi đều tới thư viện Quốc Gia để học chuẩn bị cho kỳ thi Luật năm đó. May mắn, tôi đã trúng tuyển kỳ thi nầy. Có khoảng trên 2500 thí sinh ghi danh thi và có khoảng gần 1000 thí sinh trúng tuyển năm thứ 2 Luật.

Chọn ban sau khi có Cử Nhân Bán Phần: Thời gian theo học để có bằng Cử Nhân Luật khoa gồm có 4 năm. Vào năm thứ nhất và năm thứ hai, tất cả sinh viên đều học chung những môn của từng năm học, chưa có phân chia các ban. Sau khi sinh viên thi đậu 2 năm đầu, còn được gọi là Cử Nhân Bán Phần và kể từ năm thứ ba sinh viên phải chọn ban. Cử Nhân Luật gồm có 3 ngành còn được gọi là các ban: ban Tư Pháp, ban Kinh Tế và ban Công Pháp.

1.Ban Tư Pháp: Sinh viên phải học nhiều môn về luật pháp như Dân luật, Hình luật, Luật Tố tụng, Luật Đồng Bào Thiểu Số...

2.Ban Kinh Tế: Sinh viên phải học nhiều môn về lãnh vực kinh tế như Kinh tế học, Kinh tế Quốc tế, Luật Thương Mại…

3.Ban Công Pháp: Sinh viên phải học nhiều về Xã hội và Chính trị học, Công Pháp Tụng, Tự Do Công Cộng…

Thế là tôi ghi danh học ban Công Pháp mà tôi ưa thích. Tuy nhiên, 3 môn chính như Dân Luật, Kinh Tế và Công Pháp tất cả sinh viên thuộc các ban đều phải học chung.

Tôi phục vụ trên chiến hạm HQ503 là loại Dương Vận Hạm nên sau khi đi công tác tối đa từ 7 đến 10 ngày thì chiến hạm trở về Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Sài Gòn. Trừ những ngày trực phải ở lại chiến hạm, ngoài ra sau giờ làm việc tôi thường đến thư viện Quốc Gia ở đường Gia Long hoặc thư viện Đắc Lộ để học và chuẩn bị cho kỳ thi năm thứ 3 được tổ chức vào tháng 7 năm 1974. Tôi đã ghi danh tham dự kỳ thi nầy và là một trong khoảng 55 sinh viên ban Công Pháp của năm thứ 3 đã thi đậu. Năm tôi thi, thấy có một vị đại tá, một nhạc sĩ cùng thi.

Thêm động cơ thúc đẩy: Khi phục vụ trên chiến hạm HQ503, trong thời gian đầu tôi được phân nhiệm làm Trưởng Ban Văn Thư kiêm Bí Thư cho Hạm Trưởng. Một ngày kia tôi đã nhận và xem văn thư của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH gởi xuống có nội dung đại ý rằng sĩ quan Hải Quân nào có văn bằng cử nhân có thể xin đi học tại US Naval Postgraduate School, thành phố Monterey, California với thời gian 153 tuần để đạt lấy văn bằng Master of Science hay Master of Art hoặc cao hơn. Trên chiến hạm HQ503 mà tôi phục vụ có người bạn là HQ Trung Uý xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với văn bằng tốt nghiệp được công nhận tương đương với văn bằng Cử Nhân Khoa Học Thực Nghiệm. Nhờ vậy người bạn đã nộp đơn xin đi du học tại Hoa Kỳ theo chương trình nầy và đã rời chiến hạm vào tháng 9 năm 1974 để chuẩn bị đi du học. Sau khoảng 6 tháng học thêm Anh ngữ, vào ngày 20.3.1975 người bạn đã rời Việt Nam. Rất tiếc bạn ấy nhập học được 1 tháng tại Mỹ thì chế độ VNCH sụp đổ. Tất cả các sĩ quan QLVNCH theo học ở US Naval Postgraduate School phải rời đại học. Hiện tại người bạn đang định cư tại California, Hoa Kỳ.

Vào những năm 1974, 1975, cơ hội đi du học ở Mỹ, cũng như những cơ hội tiến thân nếu sĩ quan Hải Quân có văn bằng cử nhân, thêm vào đó tôi có ông bác vợ là luật sư tốt nghiệp ở Pháp đã tham dự hoà đàm Paris và làm ở bộ Ngoại Giao VNCH v.v. đều là những động lực khuyến khích tôi càng cố gắng nhiều hơn nữa trong việc học để có được văn bằng Cử Nhân Luật ban Công Pháp.

Sau khi thi thi đậu năm thứ ba Luật Khoa năm 1974 tôi ghi danh học năm thứ 4. Trong những tháng trước mùa Giáng Sinh năm 1974 tình hình chiến sự chưa nóng bỏng nên tôi có thời gian đến thư viện Quốc Gia và thư viện Đắc Lộ để học sau giờ làm việc trên chiến hạm mỗi khi chiến hạm chưa có công tác và đang cập bến tại Sài Gòn. Nhưng vào đầu năm 1975 tình hình chiến sự bắt đầu bộc phát, chiến hạm HQ503 phải đi công tác liên tục từ miền Trung xuống tận đảo Phú Quốc, Côn Sơn, hoặc chở những quân nhân được rút từ cao nguyên về Nha Trang rồi được chiến hạm di chuyển về Hàm Tân, Vũng Tàu v.v. Mặc dù vậy, khi có thời gian rảnh, tôi cũng cố gắng chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp Cử Nhân Luật được tổ chức vào ngày 22.5.1975 sớm hơn mọi năm. Nhưng rất tiếc kỳ thi ấy không thể xẩy ra vì toàn bộ chính quyền VNCH bị sụp đổ vào ngày 30.4.1975. Mộng ước của tôi tan tành theo mây khói. [1]

Làm thế nào để trở thành Luật Sư: Sau khi đậu Cử Nhân Luật Khoa, sinh viên có thể ghi danh vào Luật Sư Tập Sự Đoàn ở một văn phòng Luật sư Thực thụ. Sau 3 năm tập sự, sẽ có một kỳ thi khảo hạch, nếu vượt qua được thì bạn chính thức trở thành Luật sư Thực thụ. Để hiểu thêm về nghề Luật Sư dưới thời Việt Nam Cộng Hoà xin mời xem bài viết của Luật Sư Nguyễn Vạn Bình.

Cao học Luật và làm luận án Tiến Sĩ Luật: Sau khi đậu Cử Nhân Luật Khoa nếu sinh viên muốn học lên cao hơn thì có thể ghi danh học bậc cao học. Bậc cao học gồm có 2 năm gọi là Cao học 1 và Cao học 2. Sau khi tốt nghiệp 2 năm bậc cao học, thí sinh có thể tìm một giáo sư tiến sĩ Đại học Luật khoa đỡ đầu để làm luận án Tiến Sĩ Luật. Sau khi có bằng Tiến Sĩ (PhD), có thể xin dạy ở các đại học theo ngành của mình.

Tóm lại, muốn có văn bằng Cử Nhân Luật hay muốn trở thành luật sư, thẩm phán, tiến sĩ Luật v.v. sinh viên phải cố gắng rất nhiều trong việc học.

Kỹ Sư Nguyễn Văn Phảy
Cựu SVĐH Luật Khoa SG, Ban Công Pháp



Ghi thêm:

[1] Chiến hạm bị bắn: Phan Rang thất thủ vào ngày 16.4.1975, chiến hạm tôi, HQ503 có nhiệm vụ cứu vớt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và quân dân cán chính đang tìm cách di chuyển ra khỏi vùng cộng sản. Vào ngày 18.4.1975, khi chiến hạm tôi đang thi hành công tác thì bị đại pháo của cộng quân bắn ra từ bờ. Đài chỉ huy của chiến hạm và nhiều nơi bị trúng pháo địch đã gây tử thương cho 4 Sĩ quan Hải quân, 2 nhân viên Giám Lộ và 18 thuỷ thủ bị thương. Hệ thống tay lái điện của chiến hạm bất khiển dụng. Chiến hạm không di chuyển được. Nhờ có các chiến hạm bạn như Tuần Dương Hạm HQ3, HQ17, Hộ Tống hạm HQ11, Giang Pháo Hạm HQ231 v.v. nả hải pháo vào nơi địch đặt pháo nên đại pháo của cộng quân có lẽ bị trúng đạn của ta nên bị tê liệt. Nhờ vậy HQ503 sử dụng lái tay và dần dần ra khỏi vùng chiến. Mời xem Trận Chiến Vùng Cà Ná, Mũi Dinh, Phan Rang ngày 18.4.1975

Nhờ sự hộ tống và hướng dẫn của Hộ Tống Hạm HQ11, chiến hạm HQ503 về lại Sài Gòn trong vài ngày sau đó. Trong lúc chiến hạm được sửa chữa cấp tốc và chuẩn bị lương thực để đi công tác dài hạn thì vào ngày 30.4.1975 là ngày đen tối của dân tộc Việt Nam, chế độ Việt nam Cộng Hoà sụp đổ toàn diện. Ước mơ du học trong quân đội của tôi tan biến theo số phận của đất nước. Thế là tôi cùng một số sĩ quan khác trên chiến hạm bị kẹt lại Việt Nam phải bị đưa vào "tù cải tạo".


Sau khi được ra khỏi "tù cải tạo", tôi đã tìm cách vượt biên tìm tự do. Vào năm 1980, lần thứ 3 vượt biên tôi đã thành công và cùng gia đình định cư tại Cộng Hoà Liên Bang Đức. Tại Đức quốc tôi không tiếp tục học Luật mà đã theo học ngành kỹ thuật và tốt nghiệp Đại học ngành Điện Tổng Quát và chuyên về Truyền Thông. 

11/06/2013

TÌM HIỂU NGHỀ LUẬT SƯ DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA




Dù rằng ngành Luật giúp cho các sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc trong nhiều lãnh vực như: ngoại giao, ngân hàng, kinh tế, hành chánh, thương mãi, thẩm phán v.v.  nhưng có thể nói  nghề luật sư là ước vọng của hầu hết các sinh viên Luật dưới thời Việt Nam Cộng Hòa trước đây. 
Bài viết sau đây, chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho các đồng môn và quí độc giả biết sơ qua về  nghề luật sư dưới thời VNCH.

Nguyễn vạn Bình
Tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có hai Luật Sư Đoàn: Luật sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Huế  quản hạt kéo dài từ Quảng Trị đến Nha Trang. Luật sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Sàigòn có quản hạt kéo dài từ Phan Thiết đến Cà Mau.

Theo Luật số 1/62 ngày 8-1-1962 được ban hành bởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ấn định qui chế Luật Sư và tổ chức Luật Sư Đòan như sau:

I- LUẬT SƯ TẬP SỰ:
Muốn được ghi danh vào Danh Biểu Luật Sư Tập Sự, các đương sự  cần hội đủ các điều kiện:
- Có quốc tịch VN
- Đủ 21 tuổi kể từ ngày nộp đơn
- Có Cử Nhân Luật do đại học VN cấp hay văn bằng cử nhân Luật tương đương của ngoại quốc được Bộ Quốc Gia Giáo Dục công nhận.
- Không bị kết án tội đại hình hay tiểu hình liên quan đến danh dự và phẩm giá.
- Không hành xử một nghề nào bất khả kiêm nhiệm với nghề luật sư.
- Được văn phòng của một luật sư thiệt thọ nhận làm tập sự.

Mỗi luật sư thiệt thọ chỉ nhận được 2 luật sư tập sự, trừ khi được Hội Đồng Luật Sư cho phép có thể nhận được 4 luật sư tập sự.
Trước khi hành nghề, luật sư tập sự phải tuyên thệ tại Tòa Thượng Thẩm trước sự chứng kiến của vị Chánh Nhất Tòa Thượng Thẩm. Lời thề  như sau:
"Tôi thề với tư cách luật sư không nói hay công bố điều gì trái luật pháp, thuần phong mỹ tục, an toàn quốc gia và an ninh công cộng. Không bao giờ xử sự thiếu tôn kính đối với tòa án và nhà cầm quyền."

Luật sư tập sự có nhiệm vụ:
- Phải chuyên cần tham dự các hoạt động nghề nghiệp dưới sự điều khiển của vị Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn
- Thực tập các qui tắc và tập quán truyền thống của nghề nghiệp
- Chuyên cần đến dự các phiên tòa
- Chuyên cần làm việc tại văn phòng luật sư thiệt thọ

Sau thời hạn tập sự 3 năm, luật sư tập sự phải qua một kỳ thi để trở thành luật thiệt thọ. Luật sư tập sự chỉ có quyền dự thi tối đa 3 lần, mỗi năm 1 lần. Nếu rớt cả 3 lần thì bị loại ra khỏi nghề luật sư .

Thể thức thi gồm phần thi viết và phần thi vấn đáp.
1) Phần thi viết, thí sinh phải lập lý đoán một vụ kiện về Hộ (đề thi do ông Chánh Nhất Tòa Thượng Thẩm đưa ra).

2) Nếu đậu thi viết, thí sinh sẽ qua phần thi vấn đáp:
   * Về Hình Luật do vị Hội Thẩm Tòa Thượng Thẩm hỏi.
   * Về Hộ do ông Chánh Nhất Tòa Thượng Thẩm hỏi.
   * Về Luật Trước Bạ do Giám Đốc Nha Trước Bạ hỏi.   
   * Sau cùng là về trách nhiệm và đạo đức của nghề Luật sư do vị Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn nêu ra.

Sau khi thi đậu phần vấn đáp, thí sinh sẽ dự thi phần biện hộ về Hình .Các thí sinh sẽ bốc thăm một vụ Hình đã được xử trước đây. Mỗi thí sinh được 15 phút nghiên cứu hồ sơ và sau đó lên biện hộ trước thành phần Ban Giám Khảo gồm có vị Chánh Nhất, hai vị Hội Thẩm và Thủ Lãnh Luật sư Đoàn.  

II- LUẬT SƯ THIỆT THỌ:

Muốn được ghi danh vào Danh Biểu Luật Sư Thiệt Thọ, thí sinh cần hội đủ những điều kiện sau đây:
- Có quốc tịch VN
- Đủ 24 tuổi
- Có văn bằng cử nhân Luật do đại học VN cấp hay văn bằng cử nhân Luật tương đương do ngoại quốc cấp được Bộ Giáo Dục công nhận
-  Có hạnh kiểm tốt và không bị kết án tội đại hình hay tiểu hình liên quan đến danh dự và phẩm giá
- Trúng tuyển kỳ thi mãn hạn luật sư tập sự
- Được miễn thời gian 3 năm tập sự dành cho những vị giáo sư Luật có thời gian dạy học liên tục 3 năm. Các thẩm phán ngạch tư pháp và hành chánh đã giữ chức vụ tại các tòa án tư pháp và hành chánh hay tại Bộ tư Pháp trong thời hạn 3 năm. Nếu các thẩm phán, giáo sư, giảng sư , giảng viên không có đủ thâm niên 3 năm thì phải tập sự thêm một thời hạn để có đủ 3 năm thâm niên.
- Phải cư ngụ trong quản hạt của Tòa Thượng Thẩm.
- Không được kiêm nhiệm với mọi chức vụ tư pháp hay hành chánh. Tuy nhiên, luật sư có thể kiêm nhiệm chức vụ giáo sư, giãng sư hay giãng viên tại các đại học.
          - Mỗi luật sư thiệt thọ chỉ được mở một văn phòng trong quản hạt Tòa Thượng Thẩm.

III- HỘI ĐỒNG LUẬT SƯ :
Hội Đồng Luật Sư là một tổ chức do đại hội gồm các Luật sư Thiệt Thọ bầu ra vào tháng 3 mỗi năm để quản trị Luật sư Đoàn.
Thành phần Hội Đồng Luật Sư gồm có: Vị Thủ Lãnh là chủ tịch Hội Đồng. 21 Hội Viên Thiệt Thọ và 13 Hội Viên Dự Khuyết.
Chỉ những luật sư đã có 10 năm thâm niên kể từ ngày tuyên thệ mới được bầu làm Thủ Lãnh. Các luật sư thiệt thọ có ít nhất 3 năm thâm niên mới được bầu vào  Hội Viên Thiệt Thọ và Hội Viên Dự Khuyết.
Được biết gần thời gian trước năm 1975, Luật Sư Đòan Sàigòn có các vị thủ lãnh: luật sư Hồ Tri Châu, luật sư Nguyễn Ngọc San, luật sư Trần Văn Tốt và sau cùng là luật sư Trần Văn Tuyên.

IV- NGHĨA VỤ TỔNG QUÁT
Các luật sư tập sư hay thiệt thọ ngoài khà năng chuyên môn về luật pháp, còn cần thêm những đức tính căn bản sau
 
      1- Độc Lập
: Không lệ thuộc ai, không bị chính quyền hay tòa án chỉ huy, không hành động vì quyền lội cá nhân để giúp cho công lý được điều hành tốt đẹp
       2- Ngay Thật
: Phải ngay thật trong tư tưởng, lời nói và trung trực trong hành động hầu đạt được sự tín nhiệm của  các thân chủ, bạn đồng nghiệp và của tòa án
      3- Bất vụ Lợi: Luật sư không lấy nghề làm chủ đích để làm tiền hay làm giàu mà để phụng sự cho một lý tưởng là quyền bào chữa và phục vụ cho công lý.

Ngoài ra, các luật sư cũng còn cần giữ sự thân thiện , tương kính giữa các đồng nghiệp, sự kính trọng với các thẩm phán và giữ kín những điều bí mật không làm thịệt hại đến quyền lợi của các  thân chủ ./.
V- KỶ LUẬT:  
Các luật sư có thể bị trừng phạt bằng những biện pháp kỷ luật của Hội Đồng Luật Sư khi vi phạm những nguyên tắc hành nghề hoặc theo lời yêu cầu của Chưởng Lý hay theo đơn khiếu nại được gởi đến Hội Đồng Luật Sư. Hoặc khi luật sư vi phạm lời tuyên thệ bằng lời nói hay bút tự trước Tòa có thể bị Tòa án đang thọ lý xử phạt ngay chiếu khởi tố trạng của Công Tố Viện. Hoặc khi luật sư tiết lộ bí mật sự thẩm cứu như việc cho những người khác hay biết những chi tiết trong hồ sơ công bố tài liệu, văn kiện, thơ từ liên quan đến việc điều tra đang tiến hành

Sau khi thụ lý, Hội Đồng Luật Sư sẽ ủy nhiệm một nhân viên mở cuộc điều tra, nghe nhân chứng nếu cần và làm phúc trình cho Hội Đồng. Sau đó, Hội Đồng sẽ quyết định đình cứu hay truy tố.
Nếu Hội Đồng Luật Sư quyết định truy tố, Hội Đồng sẽ nói rõ những hành vi khiển trách và định ngày cho luật sư bị khiển trách ra trước Hội Đồng Kỷ Luật. 
Nếu luật sư bị đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật  là một lụật sư tập sự thì Hội Đồng Kỷ Luật sẽ được tăng cường thêm hai luật sư tập sự chọn theo thứ tự thâm niên ghi trên danh sách .
Khi Hội Đồng Luật Sư thụ lý một việc do sự can thiệp của Chưởng Lý mà không quyết định trong thời hạn hai tháng đối với luật sư bị trách cứ có mặt hay sáu tháng đối với luật sư bị trách cứ vắng mặt kể từ khi nhận được lời yêu cầu, thì ông Chưởng Lý có thể đưa nội vụ ra trước tòa thượng thẩm. Tòa nầy dùng quyền di thẩm mà xét xử .

Những khoản trừng phạt về kỷ luật là :
- Cảnh cáo
- Khiển trách
- Đình chỉ hành nghề hay tập sự không quá một năm  hay gạch tên trên Danh Biểu Luật Sư Đoàn.
Việc trừng phạt kỷ luật của luật sư vẫn không làm trở ngại đến quyền của công tố viện hay của dân sự nguyên cáo  khi cho rằng có lý do chính đáng để truy tố một luật sư trước tòa án để xin trừng phạt các hành vi phạm pháp về tiểu hình hay đại hình của luật sư đó./.

Tác giả bài viết: Ls Nguyễn Vạn Bình

    

10/29/2013

DẠ TIỆC HỘI NGỘ MÙA THU KỲ IV -2013


HỘI NGỘ MÙA THU
GIA ĐÌNH LUẬT KHOA KỲ IV
VỚI ĐẬM ĐÀ TÌNH THẦY TRÒ VÀ BẠN HỮU


Gần 250 cựu sinh viên Luật Khoa Sàigòn, Huế và Cần Thơ cùng các thân hữu đã đến tham dự buổi Hội Ngộ Mùa Thu của Gia Đình Luật Khoa Bắc California  Kỳ IV tại nhà hàng Grand Fortune, San Jose vào 6 giờ chiều ngày 13-10-2013 vừa qua. 
Trong thành phần gia đình Luật Khoa, chúng tôi nhận thấy có phu nhân cố giáo sư Nguyễn Quang Quýnh, Gs Quách Thị Nho, các luật sư Nguyễn Hữu Thống, Nam Thị Hồng Vân, nguyên chủ tịch Hội Luật Gia, các luật sư Đào Ngọc Thụy, Lê Công Tâm, Đào Thị Tuyền thuộc Hội Ái Hữu Luật Khoa Nam Cali. cùng nhiều cựu  sinh viên Luật của ba trường Luật Sàigòn, Huế ,Cần Thơ thuộc các niên khóa từ năm 1955 đến năm 1974. đến từ các nơi.  

Kính mời quý vị click trên tấm hình để xem chi tiết về buổi hội ngộ truyền thống hằng năm của Gia Đình Luật Khoa Bắc California.

 

10/01/2013

DẠ TIỆC HỘI NGỘ MÙA THU KỲ IV 13.10.2013



Quý vị đã có vé tham dự 
Dạ Tiệc Hội Ngộ Mùa Thu Kỳ IV - 2013 
cho mình và bạn bè chưa?

Xin hãy  tham dự đông đảo Dạ Tiệc Hội Mùa Thu San Jose của 3 trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn-Huế-Cần Thơ cùng nhau thực hiện mỗi năm. Trên 300 cuốn Đặc San LK 2013 sẽ được phân phát đến tất cả quan khách hiện diện trong đêm họp mặt. Đặc San được phát hành mỗi năm một lần với những tài liệu, hình ảnh, bài vở đặc sắc đã được những người thực hiện chuẩn bị gần một một năm.

Đặc biệt tất cả các cựu SV Luật tham dự 
đều được Ban TChức  xướng danh.

Sự hiện diện của quý Giáo Sư, quý Đồng Môn và Thân Hữu không những là niềm vinh hạnh cho Ban Tổ Chức, mà còn nói lên sự quan tâm của quý vị đối với các cựu sinh viên Luật Khoa của 3 trường Đại Học Sài Gòn - Huế - Cần Thơ,  niên khóa 1955 -1975

Liên lạc: Nguyễn Vạn Bình (Trưởng Ban Tổ Chức)
               408 - 410-3379

Hay gởi chi phiếu về địa chỉ:
HỘI NGỘ MÙA THU LUẬT KHOA
6070 Blossom Ave. San Jose CA. 95123


 
Chúng tôi sẽ gởi Thiệp Mời và vé Tham Dđến tận nhà của quý v

Xem chi tiết ở link dưới đây:
THÔNG BÁO 2 HỘI NGỘ MÙA THU KỲ IV -2013

9/25/2013

HÃY SỐNG ĐẸP VỚI NHAU - TẠI ĐÂY, LÚC NÀY



Vào giữa thập niên 1950, lúc còn theo học tại Trường Luật Saigon, thì tôi được nhận vào lưu trú tại một cư xá dành cho sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng. Cư xá này nằm trên đường Nguyễn Thông gần với Bệnh viện Saint Paul thuộc Quận 3 Saigon. Hồi đó, chừng 60 anh em chúng tôi sống quây quần bên nhau - tất cả đều còn ở vào cái tuổi đôi mươi, hãy còn hồn nhiên, lạc quan yêu đời, chỉ biết say mê chuyên cần với chuyện học tập nơi các phân khoa đại học.

Lớp sau này vào các năm 1960 – 1970, thì số lưu trú sinh tại cơ sở này lại còn đông hơn, trẻ tuổi hơn nữa. Tổng số các bạn đã từng sinh sống tại Câu lạc bộ Phục Hưng này - từ năm 1955 lúc mới thành lập cho đến năm 1975 lúc đóng cửa - thì có thể lên đến con số 4 – 500 người. Ngày nay, anh em Phục Hưng chúng tôi, thì người trẻ tuổi nhất cũng đã ngòai 60 – còn phần đông cũng đã ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” họăc còn cao hơn nữa. Mà trong đó cũng nhiều bạn đã ra đi, từ giã gia đình, bỏ lại anh em. Số còn lại, thì phân tán khắp bốn phương trời – ở lại quê hương cũng có, mà lưu lạc qua các xứ Âu Mỹ cũng có nữa. Anh em không thành lập Hội Ái Hữu để quy tụ lại với nhau, như các tổ chức khác. Tuy vậy, lâu lâu chúng tôi cũng gặp gỡ nhau qua dịp này dịp nọ – để hàn huyện tâm sự, ôn lại cái kỷ niệm vui buồn với nhau trong thời gian chung sống dưới mái nhà Phục Hưng thân thương ấy.


Riêng bản thân mình, thì mấy năm trước đây tôi đã viết một bài nhan đề là “Những ngày xưa thân ái ấy” – để ghi lại cái kỷ niệm thân thiết với các bạn cùng sát cánh với nhau tại cư xá Phục Hưng này trong thời gian giữa những năm 1950 thanh bình êm ả tuyệt vời đó. Nhưng đúng theo với nhan đề ở trên, thì bài này không nhằm viết về chuyện riêng tư của anh em trong Đại Gia đình Phục Hưng chúng tôi – mà chủ yếu là để bàn về chuyện đa số chúng ta phải làm sao mà “Sống Cho Đẹp Với Nhau” - giữa cuộc đời tại thế nơi quê hương đất nước, vào ngay giờ phút hiện tại lúc này đây (như người Âu Mỹ thường dùng từ ngữ trong tiếng La tinh : “hic et nunc” - mà trong tiếng Anh, thì là : “here and now”). Tôi xin lần lượt khai triển chủ đề qua mấy mục sau đây.



1 - “Nếu muốn cúng cho tôi , thì hãy cúng ngay bây giờ – lúc tôi hãy còn sống sờ sờ ra đây này.”
 
Cách nay không lâu, một số anh em Phục Hưng chúng tôi ở Nam California được một anh bạn mời đến nhà anh chị tại thành phố Westminster để uống cà phê, ăn sáng. Gia chủ đó chính là anh chị Bùi Hòang Ân & Mỵ Nương đã cho chúng tôi thưởng thức món bánh và cà phê rất đặc sắc do chính anh chị đích thân chế biến. Câu chuyện râm ran thật vui vẻ, hồn nhiên sinh động giữa anh chị em chúng tôi – tiếp nối với cuộc Hội ngộ của đông đảo bạn hữu xảy ra vài ba tuần trước đó.


Chúng tôi ngạc nhiên về số thiết bị đồ sộ trong căn bếp và tò mò hỏi gia chủ, thì được anh chị kể lại nguyên do câu chuyện thật là ngộ nghĩnh như thế này. Mấy năm trước anh Ân có triệu chứng bị bệnh ung thư, nên phải nghỉ làm việc để điều trị. Trong thời gian nghỉ ngơi để chữa bệnh, anh Ân mới nói với chị Mỵ Nương đại khái như thế này ; “ Bệnh tình của tôi không biết sống chết như thế nào. Nhưng mà, nếu bà có thương tôi, thì đừng có đợi đến khi tôi lìa đời, rồi mới đem cúng giỗ của ngon vật lạ cho tôi nha. Mà trái lại, bà cứ cúng cho tôi ngay lúc này, khi tôi còn sống sờ sờ ra đây, tôi còn thưởng thức được những thứ ngon ngọt quý báu đó... Có như vậy, thì mới rõ là thật lòng với nhau đấy!”

Chị Mỵ Nương tiếp lời, nói với bọn tôi : “Các anh chị thấy đấy, anh Ân đã nói như vậy, thì tôi làm sao mà còn dám chối từ điều gì với anh ấy nữa. Và tôi đã hết sức chiều theo các ước muốn của anh – đó là lý do tại sao chúng tôi sắm sửa các vật dụng để chế biến cà phê và làm bánh như các bạn thấy bữa nay. May mà rút cục anh Ân đã tai qua nạn khỏi, căn bệnh ban đầu tưởng là hiểm nghèo, thì nay đã tan biến đi rồi để anh có thể đi làm trở lại như trước kia. Vợ chồng chúng tôi thật mừng rỡ và riêng tôi mỗi khi nhớ đến cái câu nói “ Xin cúng tôi ngay lúc này...” của anh Ân, thì tôi không khỏi cười thầm – và quả thật chúng tôi thật tâm đắc với nhau lắm lắm vậy đó...”
Bọn khách mời chúng tôi buổi sáng hôm đó - tất cả đều là các cựu lưu trú sinh ở câu lạc bộ Phục Hưng thời kỳ trước năm 1975 - thì không những được thưởng thức một bữa ăn sáng ngon miệng, mà đặc biệt lại được biết đến một câu chuyện vui vẻ, ngộ nghĩnh lý thú trong gia đình của anh chị bạn Hòang Ân & Mỵ Nương này.

2 - “ Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu tôi bây giờ...”
 

Câu chuyện của anh chị Hòang Ân & Mỵ Nương nói trên làm cho tôi nhớ đến bài hát được nhiều người ưa thích, đó là bài có tựa đề “Nếu có yêu tôi” của nhạc sĩ Duy Đức phổ nhạc từ bài thơ của nữ thi sĩ Ngô Tịnh Yên. Xin ghi lại một vài đọan trong bài nhạc như sau :

“ Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu tôi bây giờ
  Đừng để ngày mai, đến lúc tôi qua đời
 Đừng để ngày mai, có khi tôi thành mây khói
 Cát bụi - làm sao mà biết mỉm cười.
 Nếu có bao dung, thì hãy bao dung bây giờ
 Đừng để ngày mai, đến lúc tôi xa đời.
 …...”
Rõ ràng bài ca này chứa đựng một nội dung triết lý rất là thực dụng, lạc quan, cụ thể – không hề chấp nhận một sự mơ hồ viển vông nào trong mối quan hệ giữa những con người hiện đang sát cánh với nhau mà sinh sống trên cuộc đất này. Đây cũng là một lời mời gọi để mỗi người nên quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của nhau - hầu có những hành động thích đáng nhằm đem lại sự an vui thỏai mái cho người thân thiết gần gũi xung quanh mình.

Trên phạm vi rộng lớn hơn, thì bài thi ca này cũng làm cho ta nhớ lại câu văn bất hủ của văn hào người Nga Boris Pasternak – ông là tác giả cuốn truyện đặc sắc Doctor Zhivago, mà cũng là một nhà văn được cấp phát Giải thưởng Nobel về Văn chương năm 1958. Câu văn đó như sau : “Con người sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống” (Bản dịch Anh ngữ : “Man is born to live, and not to prepare to live”.

Nếu ta chú ý đến bối cảnh kinh hòang ở Liên Xô dưới chế độ tàn bạo của Stalin thời các năm 1930 – 40, thì lời phát biểu của Pasternak ghi trên thật là sáng suốt và can đảm. Đó cũng là một lời phủ định dứt khóat đối với sự hứa hẹn về cái “thiên đường cộng sản” – mà người theo chủ nghĩa marxist-leninist vẫn rêu rao khắp nơi từ thập niên 1930 (được gọi là thập niên đỏ = décade rouge) rằng sẽ có những “Ngày Mai Ca Hát” (des lendemains qui chantent như người cộng sản ở Pháp thường nói).

Ngày nay ở vào thế kỷ XXI, sau khi chế độ cộng sản hòan tòan bị sụp đổ ở Liên Xô và ở Đông Âu, thì tòan thể nhân lọai chúng ta càng nhận thức được rõ ràng hơn về cái thủ đọan mê hoặc, dối trá và cực kỳ tàn bạo của phe cộng sản – đến độ gây ra biết bao nhiêu thảm họa cho hàng mấy trăm triệu con người trong thế kỷ XX vừa qua.

3 – “Yêu thương nhau, đó là cùng với nhau nhìn chung về một hướng”.

Thế hệ sinh viên chúng tôi ở miền Nam Việt nam vào hồi thập niên 1950, thì hầu hết đều đọc thông thạo được sách báo tiếng Pháp. Ở độ tuổi đôi mươi, chúng tôi say mê đọc những cuốn sách của Raymond Aron, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Antoine de Saint-Exupéry v.v…Chúng tôi thật tâm đắc với cái định nghĩa về Tình Yêu của nhà văn – phi công Saint-Exupéry qua câu văn thật ngắn gọn như sau : “Yêu thương nhau, không phải là hai người nhìn ngắm nhau. Mà là cùng với nhau nhìn chung về một hướng”. (Nguyên văn tiếng Pháp là : “Aimer, ce n’est pas regarder l’un l’autre. Mais c’est regarder ensemble dans une même direction”)

Trong nội bộ của một gia đình, thì tình yêu giữa hai vợ chồng mỗi ngày càng được củng cố bền chặt hơn – chủ yếu bởi cái sự cố gắng bền bỉ mà cả hai người đều chung nhau lo lắng chăm sóc cho đứa con - vốn là kết quả phát sinh từ tình yêu chân thật của đôi lứa.

Còn trong phạm vi rộng lớn như sinh họat cộng đồng của cả một dân tộc, thì tình yêu thương đích thực giữa các thành viên cấu tạo thành cộng đồng này chính là cái ý chí chung, cái khát vọng và sự cam kết của cả tập thể dân tộc đó nhằm xây dựng một xã hội an vui, thịnh vượng và nhân ái – trong đó phẩm giá của mỗi người đều được tôn trọng và quyền con người đều được bảo đảm.

Chuyện cụ thể thiết thực và phấn khởi nhất của sự biểu lộ ý chí và cam kết này, đó là sự đồng lọat của nhiều người - thuộc đủ mọi giới ở trong cũng như ở ngòai nước - cùng bày tỏ gia nhập vào Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự - mà vừa được phát động vào ngày 23 tháng 9 năm 2013 – đúng vào lúc tôi bắt đầu bài viết này.

Bản thân tôi cũng đã vừa ký tên gia nhập Diễn Đàn XHDS này, và trong danh sách những người đã ký tên gia nhập Diễn Đàn tôi nhận ra nhiều người đã từng là bạn hữu thân thiết lâu nay của tôi. Cái hành động “Dấn thân tập thể” đó chính là sự biểu lộ tình Liên đới mỗi ngày thêm mạnh mẽ hơn mãi - và cũng là sự khởi đầu của một Tập hợp Quần chúng nhằm đòi lại cái Quyền Chủ Động và Tự Quyết của Tòan thể Dân tộc – trong công cuộc giải thóat Đất nước khỏi cái vòng nô lệ cay nghiệt của cả hai thứ giặc nội xâm cũng như ngọai xâm hiện đang tung hòanh dày xéo trên giang sơn gấm vóc – mà cha ông chúng ta đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ từ mấy ngàn năm nay.

Quả thật, chúng tôi yêu thương nhau vì cùng chung sát cánh với nhau trong công việc góp phần kiến tạo một xã hội tiến bộ, thịnh vượng và nhân ái cho thật xứng đáng với phẩm giá cao quý của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt nam thân yêu này vậy./

Costa Mesa California, ngày 25 tháng Chín 2013
Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

9/18/2013

ĐẠO PHẬT và NHÂN QUYỀN trong Lịch Sử Việt Nam


ĐẠO PHẬT và NHÂN QUYỀN trong Lịch Sử Việt Nam
(BUDDHISM AND HUMAN RIGHTS IN TRADITIONAL VIETNAM)
tác giả bài viết: LS Tạ Văn Tài

S
au nhiều năm đàm phán, bản Tuyên ngôn bước ngoặt về “ Sự loại bỏ tất cả Những hình thức Bất Khoan Dung và Phân biệt Đối xử dựa trên Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng” đã ra đời vào năm 1981 để giải thích cho các điều khoản về tôn giáo và tín ngưỡng trong Thỏa ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị.  Chỉ trong thập kỷ 1980 sự phân tích của học giả, sự che chở cho tôn giáo và mối tương quan giữa nhân quyền và tôn giáo mới được khởi sự nghiêm túc, với sự trỗi dậy của tôn giáo trên vũ đài thế giới. Một vài biến cố quốc tế gần đây đã nhắc nhở các học giả nên quan tâm nhiều hơn đến tôn giáo như một vấn đề nhân quyền...


Kính mời click trên hình để đọc trọn bài viết 




9/09/2013

VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM, vietnamfilmclub



Kính gởi Quý Đồng Hương
Vietnam Film Club trân trọng thông báo
Nhân kỷ niệm ba năm ngày thành lập Vietnam Film Club, chúng tôi đã phổ biến trên Youtube một bộ phim tài liệu gồm nhiều tập. 
Tập 1 sẽ là Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm đã xảy ra vào thập niên 1950 tại miền Bắc Việt Nam.  Các tập còn lại sẽ lần lượt xuất hiện trên Youtube cho đến tập cuối cùng. Sau đó, Vietnam Film Club sẽ chính thức phát hành rộng rãi bộ phim tài liệu này bằng DVD.
Cũng như hai cuốn phim tài liệu đã phát hành Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt NamThe Soul of Vietnam, The Vietnamese National Flag and Anthem, được Đồng Hương khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, bộ phim này cũng sẽ là tổng hợp những đóng góp của người Việt Hải Ngoại, nhằm làm sáng tỏ những sự kiện lịch sử đã bị bóp méo, xuyên tạc hay được tô vẽ sai sự thật.

Xin mời Qúy Đồng Hương dành chút thì giờ xem cuốn phim này. Trân trọng cám ơn.

8/13/2013

DẠ TIỆC HỘI NGỘ MÙA THU LUẬT KHOA BẮC CALIFORNIA 2013




Quý vị đã dành ngày 13.10.2013 cho mình chưa?

Nếu chưa, xin mời liên lạc ngay:

anh Trưởng Ban
NGUYỄN VẠN BÌNH

Email: hoingoluatkhoa@yahoo.com
Điện thoại: 408.410.3379


Kính mời quý vị cùng thưởng thức bài thơ " MÙA THU HỘI NGỘ" của tác giNhư Thu, đghi nh cho dù bận như thế nào, xin hãy dành ngày Hội Ngộ nầy cho chính mình, để cảm nhận được cảm xúc thật đẹp dù ít hay nhiều sẽ xảy đến cho bạn khi gặp lại Giáo Sư, Niên Trưởng và các bạn đồng môn khắp nơi từ 3 trường Đại Học Sài Gòn - Huế - Cần Thơ tụ về.

HỘI tụ bao người khắp muôn phương
NGỘ sao lòng cứ mãi vấn vương?
MÙA hè thưở ấy dạ lưu luyến 
THU đến mượt mà tỏa sắc hương
LUẬT sư yêu nghề mong ước giữ
KHOA bảng khắc ghi vang dậy trường
SÀIGÒN yêu dấu ngọt ngào quá
HUẾ đẹp mộng mơ, lãng đãng sương
CẦN THƠ vời vợi trăm nỗi nhớ
SAN JOSE hãnh diện biết dường bao !